Chương 24: Giấy nợ
Tờ giấy học trò kẻ ô ly, xé ra từ cuốn tập của Ngò, Sển viết kín hai mặt. Chữ anh to, nghiêng, chỗ nào sai thì gạch đi viết lại, cuối trang ký tên, ghi rõ họ tên, số căn cước, ngày mùng Chín tháng Hai năm Bính Ngọ. Thụ đọc lại cho anh nghe từng dòng, hỏi anh có muốn sửa chỗ nào không. Anh lắc đầu.
Năm giờ sáng. Trời mới tờ mờ. Cả gánh ngồi quanh cái chiếu trải trên sàn nhà võ ca đình Mỹ Lương, không ai ngủ lại được. Sển ngồi ở đầu chiếu, hai tay đặt trên đùi, như người ngồi chờ toà kêu tên.
– Đem nó lên công an. – Đờn nói. – Có giấy, có clip. Đem lên.
– Đem lên thì gánh hết hát. – Chú Út Bền nói, giọng mệt mỏi. – Người ta mời từng người lên lấy lời khai, mất cả ngày. Mùng Mười phải có mặt ở cù lao.
– Thì hết hát. Nó cưa thang. Con Thoa mà té…
– Anh Đờn. – Thoa nói.
Đờn im. Anh thở phì phò, quay mặt đi.
Thoa nhìn Sển. Anh ta không nhìn ai. Anh nhìn cái điện thoại cũ màn hình nứt nằm trên chiếu trước mặt, màn hình tối đen. Trong cái điện thoại đó có tấm hình một thằng nhỏ đầu trọc giơ hai ngón tay.
– Để em hỏi ông. – Cô nói.
Bảy giờ sáng, ở trạm y tế, ông Năm nghe Thoa kể, nằm im, mắt nhìn lên trần nhà có mấy vệt nước mưa thấm loang lổ. Cô kể hết. Cây cưa sắt. Tờ giấy hai mặt. Thằng nhỏ đầu trọc. Cô không kể câu cuối cùng của Sển. Cô chưa biết nói câu đó với ông thế nào.
– Con tính sao? – Ông hỏi.
– Con giữ tờ giấy với cái clip. Con cho ảnh đi. – Thoa nói. – Không phải con tha cho ảnh. Con giữ để có cái mà nói chuyện với ông Bửu. Đem ảnh lên công an bây giờ thì ông Bửu nói ổng không biết gì, ảnh tự làm. Ảnh vô tù. Thằng con ảnh nằm viện một mình.
Ông Năm im lặng một lúc lâu.
– Con giống ông cố con. – Ông nói. – Ổng cũng tính vậy. Tính cái lợi trước, rồi mới tính cái thương. Mà cuối cùng cái thương nó nặng hơn.
Ông quay qua cái bàn đầu giường, mò trong túi áo treo trên thành giường, lấy ra một xấp tiền nhét trong bao ni lông.
– Lương hai tháng của nó. Đưa nó. Biểu nó đi đi, đừng để ông thấy mặt.
Tám giờ, Sển xách cái túi đeo chéo ra cổng đình. Không ai tiễn. Chỉ có Thoa đứng ở cổng, đưa cho anh xấp tiền. Anh cầm, nhìn xấp tiền, rồi nhìn cô.
– Cô Thoa. – Anh nói. – Hồi ở Lạch Bà, tui nói nếu là con tui, tui không cho đội cái đó. Tui nói thiệt lòng.
– Em biết.
– Tui cưa thang, tui cũng không muốn cô té. Tui muốn cô sợ. Mà tui cưa sâu. Tui sợ ông Bửu biết tui cưa cạn. – Anh cúi đầu. – Tui không biết vậy là tui muốn cái gì nữa.
Anh đi ra con đường đal giữa hai vườn bưởi, đi về phía bến phà, cái lưng gầy gò nhỏ dần, rồi khuất sau một rặng chuối.
Thoa gọi cho Quan Bửu lúc chín giờ. Ông ta bắt máy ngay hồi chuông thứ hai, như người đang chờ.
– Cô Thoa. – Giọng Chợ Lớn mềm như lụa, có điều hôm nay hơi mỏng đi một chút. – Tôi nghe rồi.
– Ông nghe ai?
– Sển gọi tôi lúc sáu giờ. – Ông ta nói thẳng, không giấu. – Nó nói nó khai hết rồi. Nó nói cô thả nó. Cô muốn gặp tôi?
– Chiều nay. Bốn giờ. Quán nước ở đầu bến phà Mỹ Lương.
– Tôi xuống.
Bốn giờ chiều, quán nước ở đầu bến phà lợp mái lá, kê mấy bộ bàn ghế nhựa đỏ sát mé sông. Gió sông Tiền thổi lồng lộng, mùi phù sa, mùi dầu máy của mấy chiếc phà. Thụ ngồi ở cái bàn cuối quán, gọi ly nước dừa, đặt cái máy ghi âm trên bàn, không giấu.
Quan Bửu tới đúng giờ. Vẫn áo sơ mi trắng, kính gọng mảnh, đi một mình. Ông ta ngồi xuống đối diện Thoa, gật đầu chào Thụ ở bàn xa, gọi một ly trà nóng.
Thoa không nói gì trước. Cô đặt cái điện thoại của Ngò lên bàn, bấm cho chạy đoạn clip. Sển ngồi dưới đất cạnh bánh xe tải, khóc, khai. Cô để nó chạy chừng hai phút, tới đoạn "ổng nói làm sao cho cái gánh đó đừng hát tới đêm thứ bảy", rồi bấm dừng. Cô đặt tờ giấy kẻ ô ly cạnh cái điện thoại. Hồi trưa cô đã chụp nó, gửi cho dì Bảy Nhàn ở Sài Gòn cùng cái clip, kèm một câu dặn.
Quan Bửu nhìn tờ giấy. Ông ta không cầm lên. Ông ta đọc nó từ xa, qua cặp kính, chậm rãi.
– Cô muốn gì?
– Con không muốn gì của ông. – Thoa nói. – Con nói cho ông biết. Từ giờ tới hết mùa, gánh con mà có thêm một ổ khoá bị cạy, một can xăng có đường, một cây tre bị cưa. Hay một đình nào gọi điện xin huỷ hợp đồng. Thì cái clip này với tờ giấy này nằm trên bàn công an. Dì con ở Sài Gòn đã giữ một bản. Con mà có chuyện gì, dì con đem đi.
Quan Bửu không đổi sắc mặt. Ông ta nhấp một ngụm trà.
– Còn tiền nợ?
– Gánh trả. Rằm tháng Ba. Đủ ba trăm triệu, đúng như giấy.
– Cô biết gánh cô thiếu bao nhiêu không?
– Biết. – Thoa nói. – Thiếu thì gánh lo. Không phải chuyện của ông.
Quan Bửu đặt ly trà xuống. Ông ta nhìn ra sông một lúc, nơi chiếc phà đang chậm chạp tách bến, chở theo mấy chiếc xe tải chở trái cây và một đám học trò mặc áo dài trắng.
– Tôi buôn đồ cổ bốn chục năm, cô Thoa. – Ông ta nói. – Đồ cổ đẹp nhứt là đồ người ta không chịu bán. Cái mão ông Quan Công trong rương của anh Năm, cái mặt nạ thợ Huế, mấy thứ đó đem ra chợ đồ cổ thì có giá, mà không ai làm lại được. Tôi muốn có nó. Tôi không giấu. – Ông ta quay lại nhìn cô. – Mà tôi làm ăn sòng phẳng. Tôi cho vay có giấy. Tới hạn thì lấy. Tôi nhờ người làm cho gánh đi không trọn, thì tôi sai, tôi nhận. Tôi không nhờ ai làm cho cô té. Cô tin hay không tin thì tuỳ cô.
– Con không cần tin. Con chỉ cần ông dừng.
– Tôi dừng. – Quan Bửu nói, đơn giản như vậy. Ông ta mở cái cặp da để trên ghế bên cạnh, lấy ra một tờ giấy gấp tư, mở ra đặt lên bàn. Giấy cầm cố hai rương đồ, chữ đánh máy, có chữ ký ông Năm, có chữ ký ông ta, có chữ ký chú Ba Trọng làm người làm chứng. – Rằm tháng Ba, tôi xuống Rạch Gáo. Gánh đưa tiền, tôi đưa tờ giấy này. Không ai nợ ai.
Thoa nhìn chữ ký của chú Ba ở dòng người làm chứng. Nét chữ ngay ngắn, chuẩn mực, giống như cách chú lau tay.
– Ông Bửu. – Cô nói. – Năm Canh Dần, người nhận cọc của ông là chú Ba Trọng. Chú nhận rồi.
– Ông Ba nhận rồi hả. – Quan Bửu gật đầu, không ngạc nhiên. – Ông Ba nói với cô sao?
– Chú nói chú cất cái mặt nạ thiệt trong cái giỏ đệm, nhét dưới băng ghế chót xe khách. Sáng hôm má con mất thì cái giỏ không còn. Chú nghĩ má con lấy, rồi rớt xuống sông.
Quan Bửu cười. Một tiếng cười rất nhỏ, không có gì vui trong đó.
– Ông Ba nói vậy hả.
Ông ta lấy khăn mùi xoa trong túi áo ra lau cặp kính, lau rất lâu.
– Năm đó tôi không tới gánh. Tôi không muốn ai thấy mặt tôi. Tôi sai một người làm của tôi đi nhận hàng. – Ông ta nói, chậm rãi, từng chữ. – Chỗ nhận hàng không phải tôi chọn. Ông Ba chọn. Ông Ba nói đêm thứ bảy ở cù lao, cả gánh ngủ say, không ai để ý. Ông Ba nói ông sẽ đem cái mặt nạ cất sẵn trên gác chuông đình Tân Thạnh, máng trên một cây đinh phía sau quả chuông. Ba giờ sáng, người của tôi chèo xuồng tới, leo lên lấy, rồi đi.
Thoa ngồi im. Gió sông thổi tốc mấy sợi tóc lên mặt cô, cô không vén ra.
– Ba giờ sáng rạng mười bốn tháng Hai năm Canh Dần, người của tôi lên tới nơi. – Quan Bửu nói. – Nó cột xuồng dưới mé sông, leo cái thang phía sau gác chuông. Trên đó trống trơn. Không có cái gói nào. Mưa lớn, nó không dám ở lâu, nó chèo xuồng về. – Ông ta đeo kính lại. – Sáng ra nó gọi tôi, nói nghe người ta la trên cù lao. Cô đào hát Ngọc Nữ té chết. Té từ chính cái gác chuông đó. Mười sáu năm nay, thỉnh thoảng nó còn hỏi tôi một câu. Hồi đó nó rọi đèn có một chút, dưới mưa. Cô đào nằm ở phía bên kia gác chuông, hay nằm ngay dưới chân nó.
Bên kia bàn, cái máy ghi âm của Thụ vẫn nhấp nháy đèn đỏ.
– Mười sáu năm nay ông biết. – Thoa nói. Giọng cô khô tới mức chính cô cũng nghe lạ.
– Tôi biết một cái chỗ hẹn. – Quan Bửu nói. – Tôi là người đi mua đồ thờ của Tổ người ta, mua lén, đặt cọc rồi. Cô nghĩ tôi đi nói với ai? – Ông ta đứng dậy, đặt tiền dưới ly trà, cầm cặp da lên. – Ông Ba trả lại tôi ba chục triệu, trả trong ba năm, không thiếu một đồng. Tôi nhận. Tôi coi như xong.
Ông ta bước đi được mấy bước thì dừng lại, không quay đầu.
– Cô Thoa. Ở Phước Lý tôi nói gánh cô có người nói dối cô. Tôi không nói ông ngoại cô. Cô hiểu lầm, mà tôi để cô hiểu lầm. Cái đó thì tôi xin lỗi.
Rồi ông ta đi ra chiếc xe màu bạc đậu dưới gốc me, mở cửa, bước vô.
Thụ tới ngồi xuống chỗ Quan Bửu vừa ngồi. Anh tắt máy ghi âm. Anh không nói gì. Anh chỉ đẩy ly nước dừa của mình qua cho cô.
Tối đó, Thoa đi tìm chú Ba Trọng.
Chú ngồi trong xe khách, băng ghế thứ hai, như ba ngày nay. Đèn trong xe tắt. Chỉ có ánh đèn tròn ở đầu hồi nhà võ ca hắt vô qua cửa kính, rọi lên nửa gương mặt chú. Thoa bước lên, ngồi xuống băng ghế bên kia lối đi.
– Chú nói chú cất nó trong cái giỏ dưới băng ghế chót. – Cô nói.
Chú Ba không trả lời.
– Ông Bửu nói chỗ giao hàng là gác chuông đình Tân Thạnh. Máng trên cây đinh sau quả chuông. Ba giờ sáng. Chú chọn chỗ đó.
Chú Ba vẫn không trả lời. Chú ngồi im, hai bàn tay đặt trên đùi, nắm lại. Thoa nhìn vết sẹo trắng ngang lòng bàn tay phải của chú, lấp ló giữa mấy ngón tay. Chẻ tre, dao trượt.
– Chú Ba. Con hỏi chú lần chót. – Cô nói. – Đêm đó chú ở đâu?
Một lúc lâu. Ngoài kia, tiếng ếch nhái, tiếng gió trong vườn bưởi. Rồi chú Ba nhắm mắt lại.
– Tới cù lao. – Chú nói. – Tới cù lao rồi con hỏi lại chú.
Sáng mùng Mười, gánh Phước Xuân thức dậy, chú Ba Trọng không còn trong xe khách.
Trên cái bàn gỗ ở gian khách đình, cuốn sổ bìa xanh nằm ngay ngắn, trên đó đặt chùm chìa khoá xe khách, và một mẩu giấy gấp đôi. Đờn đọc to, giọng ngắc ngứ:
– "Anh Năm. Con đi trước qua cù lao. Tối mùng Mười con có mặt ở đình. Ba."
Ông Năm vừa được cô bác sĩ trạm y tế cho về, tay còn dán băng keo chỗ kim truyền, mặt xám ngoét. Ông nghe xong, ngồi xuống cái ghế, nhìn chùm chìa khoá rất lâu.
– Thằng Út Bền. – Ông nói. – Mầy còn lái xe khách được không?
– Dạ được, anh Năm. Hồi trẻ em chạy xe đò.
– Vậy đi. – Ông nói. – Đi qua cù lao.
Ông không nói gì về chú Ba. Nhưng lúc ông đứng dậy, Thoa thấy ông cầm mẩu giấy lên, gấp lại làm tư, nhét vô túi áo, sát ngực, chỗ hồi trước ông đeo cái chìa khoá rương.
— Hết chương 24 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe