Chương 16: Đèn dầu đêm không trăng
– Anh Tư. Anh còn nhớ con Lựu hát ở đình anh năm tám mươi bảy không?
Ông Sáu Kình cầm cái điện thoại của ông Năm áp vô tai, ngồi ở bậc thềm nhà võ ca đình Phước Lý, nói chuyện với ông chánh bái đình Mỹ Lương. Cả gánh đứng quanh, không ai dám thở mạnh. Buổi sáng mùng Hai tháng Hai, trời nắng gắt từ sớm, mặt sông Vàm Cỏ loá lên như tấm thiếc.
Chú Ba Trọng đã gọi ba lần, lần nào cũng nghe ông chánh bái đình Mỹ Lương xin lỗi, nói làng nghèo, người ta cho không thì không từ chối được. Ông Năm không gọi. Ông ngồi trên ghế bố, mặt xám ngoét, một tay đặt lên ngực. Lần thứ tư, ông Sáu giật lấy điện thoại từ tay chú Ba.
– Ừ. Tui đây. Sáu Kình. – Ông nói. – Năm đó anh mới ba mươi, anh ngồi sau trống chầu, anh đánh tùng tới bể mặt trống. Anh nhớ không? Anh còn chạy ra sau cánh gà xin con Lựu tấm hình.
Đầu dây bên kia nói gì đó. Ông Sáu cười, cái cười mà Thoa chưa từng thấy trên gương mặt ông suốt từ đầu mùa.
– Ừ. Tấm hình đó tui còn nè. Tui với con Lựu đứng trước đình anh. – Ông dừng lại, giọng trầm xuống. – Anh Tư. Năm nay có một con nhỏ hát Ngọc Nữ. Con của con Út Lệ. Nó hát chữ "về" theo kiểu của nó, mà nghe nó hát là anh nhớ con Lựu. Mùa chót của gánh rồi anh. Năm nay anh không coi thì anh không bao giờ coi được nữa.
Ông im lặng nghe một lúc lâu.
– Đoàn cải lương thì năm nào anh rước mà không được. – Ông nói. – Gánh Phước Xuân thì năm nay là hết.
Khi ông Sáu đưa trả điện thoại cho ông Năm, ông chỉ nói một câu:
– Ổng giữ hợp đồng. Giá cũ. Ổng nói ổng trả lời ông chủ Chợ Lớn rồi.
Cả gánh thở phào. Chị Hai Ngộ ôm chầm lấy ông Sáu. Ông Năm nhắm mắt lại, ngả đầu ra sau, môi mấp máy gì đó như đang khấn.
Thoa nhìn ra cổng đình. Bên kia đường, quán nước dưới gốc me có mấy người đang ngồi. Không ai trong số đó có vẻ là người của Quan Bửu. Nhưng cô có cảm giác như mọi bước đi của gánh đều có người nhìn thấy, đều có người báo về một nơi nào đó.
Buổi chiều, cô đi ngang qua xe tải, thấy Đờn ngồi trên thùng xe, quay lưng ra ngoài. Bà Tám đứng dưới đất, vừa đưa cho anh một cái gói vải.
Đờn mở gói vải ra. Một cái khăn voan trắng, mỏng như sương, viền chỉ bạc đã ngả màu. Mấy chỗ bị ố vàng, có một chỗ rách nhỏ đã được khâu lại bằng chỉ trắng, đường khâu cẩn thận, nhỏ li ti.
– Bà khâu chỗ rách đó. – Bà Tám nói. – Hồi bế con vô, cái khăn rách một chỗ ở góc, bà khâu lại.
Đờn cầm cái khăn trên hai bàn tay to lớn, sần sùi. Anh không nói gì. Anh cúi mặt xuống, áp cái khăn lên mũi, hít một hơi dài, như tìm một mùi gì đó đã bay hết từ ba mươi bảy năm trước.
Thoa lặng lẽ đi chỗ khác.
Tám giờ tối mùng Hai, gánh Phước Xuân hát Ngọc Nữ đêm thứ tư.
Trời không trăng. Mùng Hai, vầng trăng non mảnh như sợi chỉ đã lặn từ lúc chạng vạng. Bầu trời trên sông Vàm Cỏ đen sì, sao mọc dày đặc. Sân đình Phước Lý chỉ có ánh sáng từ dàn đèn sân khấu, bốn bóng đèn pha lớn treo trên giàn tre, chạy bằng cái máy phát điện đặt sau nhà võ ca, kêu xình xịch đều đều.
Bà con đến rất đông. Phước Lý gần Rạch Gáo, nhiều người biết gánh Phước Xuân từ hồi còn nhỏ, nhiều người từng coi Út Lệ hát. Có mấy bà già khi thấy Thoa bước ra trong áo trắng, đội mặt nạ, đã đứng dậy chắp tay vái.
Thoa hát lớp đầu. Ông chánh bái đình Phước Lý ngồi sau trống chầu, đánh tùng đều đặn.
Cô vừa bắt sang lớp thứ hai, lớp Ngọc Nữ ôm ấn gieo mình xuống sông, thì tiếng máy phát điện ở phía sau khục khặc mấy tiếng, ho sù sụ, rồi tắt lịm.
Bốn bóng đèn pha tắt phụt.
Bóng tối ập xuống sân đình như có ai trùm một tấm chăn đen lên tất cả. Tiếng kêu thét vỡ ra từ đám đông. Có đứa nhỏ khóc. Có tiếng ghế nhựa đổ. Có người la "Cô Ngọc Nữ về! Cô về!".
Thoa đứng giữa sân khấu, trong bóng tối tuyệt đối. Qua hai lỗ mắt hạt đậu, cô không thấy gì cả. Không thấy sân đình, không thấy bà con, không thấy cánh gà. Chỉ có bóng tối, và mùi nhang trầm của chiếc mặt nạ, và tiếng tim cô đập dồn dập.
Sau lưng cô, cô nghe tiếng Đờn và Sển chạy về phía máy phát, tiếng giật dây đề phành phạch, phành phạch. Máy không nổ.
Cô nghe tiếng trống chiến của ông Sáu Kình. Ông không ngừng. Ông vẫn đánh, chậm lại, nhỏ lại, nhưng vẫn đều đặn. Như người cầm đèn đứng đầu một con đường tối, gõ nhịp cho người đi sau biết đường mà theo.
Thoa lấy hơi. Cô hát tiếp.
Cô hát lớp gieo mình xuống sông trong bóng tối. Không có đèn, không có mặt mũi, không có sân khấu. Chỉ có giọng cô, đi qua lớp gỗ, đi ra khoảng không đen kịt trước mặt. Cô không biết có ai đang nghe. Cô chỉ hát.
Rồi cô thấy một đốm sáng.
Ở hàng đầu, một đứa con nít giơ cái điện thoại lên, bật đèn pin. Một đốm sáng trắng nhỏ xíu, run run trong bóng tối.
Rồi một đốm nữa. Rồi một đốm nữa.
Rồi cả sân đình sáng lên từ từ, từng đốm, từng đốm, như sao mọc. Hàng trăm cái điện thoại giơ lên cao. Mấy bà già không có điện thoại thì đốt bật lửa. Ông chánh bái chạy vô chánh điện bưng ra hai cây đèn dầu hột vịt, đặt lên mép sân khấu, ngọn lửa vàng ấm chao nghiêng trong gió sông. Có người chạy về nhà gần đó, ôm ra một cái đèn măng-xông cũ, bơm phì phì, thắp lên, ánh sáng trắng xanh tỏa ra như ánh trăng.
Thoa nhìn qua hai lỗ mắt. Cô thấy những đốm sáng lung linh trải dài tới tận cổng đình, phản chiếu lấp lánh trong mắt những người đang ngồi yên lặng. Không ai la hét nữa. Không ai bỏ về. Họ chỉ giơ những ngọn đèn nhỏ của mình lên cao, cho cô hát.
Cô hát tới lớp áp chót. Cô đứng ở mép sân khấu, ôm cái hộp ấn trước ngực, nhìn ra cánh đồng đèn.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Và từ ngoài sông, sau lưng ngôi đình, trong bóng tối không trăng, có một giọng đàn bà cất lên. Khàn, trầm, đi trên mặt nước. Nó không hát lại câu ra. Nó chỉ ngân theo, một tiếng dài không lời, theo đuôi giọng cô, rồi vút lên, rồi buông rơi. Như một người đáp lời ai đó từ rất xa.
Cả sân đình im phăng phắc. Hàng trăm ngọn đèn nhỏ không một cái nào lay động.
Rồi tiếng ngân tắt. Chỉ còn tiếng sông.
Thoa đứng đó, ôm cái hộp ấn, cho tới khi Đờn từ cánh gà chạy ra, nhẹ nhàng kéo tấm màn lại bằng tay, vì không còn điện để làm tắt đèn theo tuồng nữa.
Sau đó một lúc, bà con mới vỗ tay. Không ồn ào như mọi đêm. Họ vỗ tay chậm rãi, lâu, như vỗ tay trong một đám giỗ.
Trong buồng hoá trang tối om, chỉ có ánh đèn pin của Ngò, bà Tám tháo mặt nạ cho Thoa. Cô ngồi thụp xuống ghế, toàn thân run lên bần bật. Không phải vì sợ. Cô không biết vì sao.
Ông Năm vén tấm bạt bước vô. Ông ngồi xuống cái ghế đẩu bên cạnh cô, trong ánh đèn pin chập chờn của Ngò. Ông không nói gì một lúc lâu. Rồi ông đưa bàn tay gầy guộc ra, đặt lên đầu cô, xoa nhẹ, như hồi cô còn nhỏ xíu ngủ gục trên rương đồ.
– Hồi ông nhỏ, chưa có máy phát. – Ông nói. – Gánh hát toàn đèn dầu với đèn măng-xông. Má ông hát dưới đèn dầu hoài. Đèn dầu rọi vô thì cái mặt nạ nó ấm lên, nó vàng lên, nó giống mặt người. Đèn điện thì nó trắng bệch.
Ông rút tay về.
– Đêm nay con hát giống má ông. – Ông nói. – Ông nghe mà ông tưởng ông mười tuổi.
Thoa muốn nói gì đó. Nhưng chưa kịp nói thì tấm bạt bị giật tung ra.
Đờn bước vào, tay cầm một cái can nhựa nhỏ, mặt hầm hầm.
– Đường. – Anh nói, giọng nghẹn vì giận. – Có đứa bỏ đường vô bình xăng máy phát.
Anh đổ một chút xăng trong can ra nắp can, rọi đèn pin vào. Dưới đáy nắp, lắng xuống một lớp hột nhỏ li ti, sáng lấp lánh, như hột cát trắng.
– Xăng dỏm chắc. – Sển nói, đứng sau lưng Đờn. – Hồi chiều tui đổ xăng ở cây xăng đầu xã. Có khi người ta pha.
– Xăng dỏm gì mà có đường cát trong đó. – Đờn quát. – Mày thử nếm coi.
– Cái can xăng dự trữ để cạnh xe tải cả buổi chiều. – Chú Ba Trọng nói, giọng mệt mỏi. – Ai đi ngang cũng bỏ được.
Đờn đứng thở hồng hộc, nhìn Sển, nhìn chú Ba, nhìn cả gánh. Không ai nói gì.
Thoa đứng dậy. Cô không muốn nghe nữa. Cô cởi đôi hài thêu, đi chân không ra sau nhà võ ca, đi về phía bến sông.
Đêm không trăng, mặt sông đen kịt. Những bậc tam cấp bằng đá ong ẩm ướt dưới chân. Gió sông thổi lạnh, mang theo mùi bùn, mùi lục bình.
Ở bậc đá dưới cùng, sát mép nước, có một bóng người đứng.
Nón lá. Áo màu tối. Một tay cầm cái cà mèn nhôm.
Thoa đứng sững. Bóng người cũng đứng yên, quay mặt về phía cô. Dưới vành nón tối om, cô không thấy được mặt. Nhưng cô biết người đó đang nhìn cô.
– Cô… – Thoa gọi, giọng khản đặc.
Bóng người quay đi. Bà bước xuống một chiếc xuồng nhỏ đậu sát bậc đá mà Thoa không hề thấy từ trước. Bà ngồi xuống, cầm mái dầm, đẩy xuồng ra.
Thoa lao xuống. Chân cô trượt trên rêu, cô chụp được cây cột đá đầu bến, đứng vững lại. Chiếc xuồng đã ra cách bờ mấy thước, đang trôi dần vào bóng tối.
– Cô Chín! – Thoa la lên. Cô không biết vì sao mình gọi cái tên đó. Nó tự bật ra. – Cô Chín Lựu!
Mái dầm khựng lại giữa chừng. Chỉ một nhịp. Một nhịp thôi, như một hơi thở bị nín.
Rồi nó khua nước tiếp. Chiếc xuồng chìm vào bóng tối, không một ngọn đèn, không một tiếng động, như chưa từng có mặt ở đó.
— Hết chương 16 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe