Chương 33: Ông ngoại thay áo
Sân đình Mù U sau giông ngập lá. Lá mù u to bằng bàn tay, dày, bóng, rụng phủ kín mặt gạch. Trái mù u tròn như hòn bi ve lăn lóc khắp nơi, giẫm lên là trượt. Mấy nhánh cây gãy nằm ngổn ngang. Nước đọng thành vũng, phản chiếu bầu trời xám xanh lúc rạng đông.
Thoa đi chân không băng qua sân. Cô không gọi. Cô đi tới tấm bạt căng tạm ở góc nhà võ ca, nơi có ánh đèn dầu vàng vọt hắt ra.
Cô nghe tiếng hát trước khi vén tấm bạt.
Một giọng đàn ông già. Mỏng, khàn, rè rè như cái radio cũ bắt sóng không tới. Nó lên không tới nốt cao, đứt quãng, lạc điệu, rồi lấy hơi, rồi đi tiếp. Mà chữ thì rõ.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Thoa vén tấm bạt.
Ông Năm ngồi trên cái ghế đẩu trước tấm gương lớn khung gỗ của bà Tám. Ông mặc cái áo Ngọc Nữ. Áo thụng trắng, thêu chỉ bạc hình sóng nước dọc hai vạt. Cái áo may cho một người đàn bà nhỏ nhắn, khoác lên thân hình gầy guộc của ông thì vai áo xệ xuống, hai ống tay dài phủ qua mấy đầu ngón tay. Sợi dây lưng xanh ngọc ông cột lệch. Cái khăn voan trắng viền chỉ bạc ông choàng lên mái tóc bạc lơ thơ.
Trên mặt ông là chiếc mặt nạ thật. Quai vải đỏ buộc vòng ra sau gáy.
Ông thấy cô trong gương. Ông không giật mình. Ông ngồi yên, hai tay đặt trên đầu gối, như cái đêm ở Rạch Gáo.
– Ông không có lén. – Ông nói. Giọng ông đi qua lớp gỗ, trầm hơn, xa hơn, lạ hơn. – Ông chờ con thức.
Thoa đứng ở cửa buồng, không bước vô.
– Ngoại lấy chìa khoá ở đâu?
– Trên cây đinh chỗ con Tám ngủ. – Ông Năm nói. – Như hồi ở Lạch Bà. Bữa ở Tân Thạnh con đưa chìa lại cho nó, nó lại treo ở đó. Năm chục năm nó treo chìa khoá ở đó.
Ông đưa hai tay lên, gỡ quai mặt nạ. Ông làm chậm, run, hai lần mới gỡ được cái nút. Lớp gỗ rời khỏi mặt ông. Gương mặt ông bên dưới nhăn nheo, đỏ hồng vì hơi nóng bị giữ lại, ướt đẫm mồ hôi, hai mắt đỏ hoe.
Ông đặt chiếc mặt nạ lên đùi, mặt ngửa lên.
– Ông chỉ muốn ngó coi có giống không. – Ông nói. – Ông mặc đồ của má ông, ông ngồi trước gương, ông ngó coi. Bảy chục năm nay ông nhớ mặt má ông, mà ông chỉ nhớ được cái mặt gỗ này. Cái mặt thiệt của má ông, ông quên rồi. Ông quên hồi nào ông không biết.
Thoa bước vô. Cô ngồi xuống cái thùng gỗ đựng kim chỉ của bà Tám đặt sát vách, đối diện ông.
– Ngoại nói đêm thứ bảy ngoại đội, có ai phải đi thì để ngoại đi.
– Ừ.
– Không phải vậy.
Ông Năm nhìn cô.
– Ngoại muốn đi theo bà cố. – Thoa nói. – Ngoại ngồi dưới chân sân khấu bảy chục năm. Ngoại muốn lên đó ngồi một lần. Ngoại muốn ngồi trên cái ghế đó.
Ông Năm không trả lời. Ông nhìn xuống chiếc mặt nạ trên đùi. Ông đưa ngón tay cái lên, miết dọc theo giọt lệ vàng, chậm rãi, từ đầu tới cuối.
– Ông mệt rồi con. – Ông nói. Giọng ông nhỏ tới mức Thoa phải nghiêng người tới mới nghe. – Ông giữ gánh sáu chục năm. Ông giữ con Lựu một cái bí mật. Ông giữ thằng Ba một cái bí mật. Ông giữ cái chuyện ông thấy mà ông không hỏi. Ông giữ hết. Giữ riết ông không biết ông còn giữ được cái gì của ông nữa.
Ông ngẩng lên.
– Ông nghĩ ông lên ngồi trên cái ghế đó, rồi ông không đứng dậy nữa. Vậy là xong. Không ai phải giữ cái gì nữa.
Thoa ngồi im một lúc lâu. Ngoài kia, trời sáng dần. Có tiếng gà gáy trong xóm. Có tiếng người quét lá ngoài sân, chổi tre sột soạt.
– Ngoại. – Cô nói. – Hồi tối ông Hai kể ba ổng cầm dùi chầu đêm đó. Ông già ông Hai giơ dùi lên, đợi bà cố đứng dậy, để đánh tiếng tùng đầu tiên cho lớp chót. Ổng đợi hoài mà không đánh được.
Ông Năm nhìn cô.
– Đêm nay ngoại cầm chầu. – Thoa nói. – Ngoại ngồi sau trống chầu, ngay dưới chân sân khấu, hàng đầu. Như năm ngoại mười tuổi. Con hát lớp chót. Ngoại đánh cái tiếng tùng đó. Cái tiếng ông già ông Hai đợi mà không đánh được. Ngoại đánh giùm ổng.
Ông Năm ngồi bất động. Rồi hai vai ông rung lên. Ông không khóc ra tiếng. Ông cúi đầu xuống, cái khăn voan trắng viền chỉ bạc rủ xuống che nửa mặt ông. Hai giọt nước mắt rơi xuống lớp sơn trắng ngà của chiếc mặt nạ trên đùi ông, đọng lại trên giọt lệ vàng, rồi lăn xuống.
Lần thứ hai từ năm ông mười tuổi.
– Con biết ông đánh chầu dở không? – Ông nói, giọng nghẹt. – Ông là bầu, ông đâu có cầm chầu bao giờ.
– Con biết. – Thoa nói. – Ngoại đánh dở cũng được. Ngoại chỉ cần đánh.
Cô cúi xuống, mở cái túi áo bà ba của mình, lấy ra một cuộn chỉ đỏ nhỏ cô xin của bà Tám từ hôm ở Tân Thạnh. Cô kéo ống tay áo thụng của ông lên, lộ ra cái cổ tay gầy như que củi, gân xanh, đốm đồi mồi. Cô cột một sợi chỉ đỏ lên đó. Ba gút. Cô giựt thử, rồi kéo ống tay áo xuống.
– Cho cô biết ngoại là người nhà. – Cô nói. – Người nhà thì cô thương.
Bà Tám Liên đứng ở cửa buồng từ lúc nào. Bà nhìn ông Năm trong cái áo Ngọc Nữ, nhìn sợi chỉ đỏ trên cổ tay ông, rồi bà đưa tay bụm miệng.
– Trời đất. – Bà nói. – Anh Năm. Anh mặc đồ con nhỏ, cái lưng áo rách bây giờ.
Rồi bà cười, cười ra nước mắt, đi tới gỡ cái khăn voan trên đầu ông xuống, xếp lại, gỡ cái dây lưng xanh ngọc cột lệch, cột lại cho ngay. Bà cởi áo cho ông như cởi áo cho một kép hát vừa xuống sân khấu.
Cả ngày mười sáu tháng Hai, gánh dựng sân khấu.
Sau giông, đình Mù U mất điện. Đường dây ngoài con đường đal đứt, người ta nói phải hai ba ngày mới sửa xong. Gánh chỉ có cái máy phát, mà cái máy phát từ hôm Phước Lý tới giờ chạy khục khặc, chú Út Bền ngồi sửa cả buổi sáng, mặt mày lem luốc. Thụ coi dự báo trên điện thoại, nói chiều tối có thể còn một trận giông nữa, nhỏ hơn đêm qua.
Người làng kéo ra phụ. Đàn ông quét lá, khiêng nhánh cây gãy, dựng giàn tre. Đàn bà nấu cơm. Con nít lượm trái mù u bỏ vô thúng. Ông Hai Lịch ngồi trên bậc tam cấp chánh điện, chỉ chỗ dựng sân khấu: đúng chỗ năm năm mươi bảy, đúng hướng, quay mặt về phía chánh điện, lưng quay ra cửa biển.
Đờn với thằng Tồ dựng một cái cổng đình bằng tre ở góc sân khấu. Hai cây cột tre, một cây xà ngang, hai cánh cửa bằng nan tre đan phất giấy đỏ, có bản lề bằng dây kẽm. Cửa đóng lại thì khít. Không có ai đứng sau cửa. Thoa dặn vậy.
Bà Mười Gừng nấu một nồi chè trôi nước gừng lớn dưới gốc mù u. Ông Sáu Kình ngồi bên bếp châm củi, đánh thử mấy hồi trống chiến cho quen tay. Ngò ngồi sau cánh gà, ôm cái hộp ấn bọc vải đỏ sờn bạc mà ông Hai Lịch giữ sáu mươi chín năm, tập đưa cho Thoa đúng nhịp. Chú Ba Trọng phụ khiêng đồ, không nói với ai câu nào. Chú khiêng xong thì đi ra ngồi ở mé nước, nhìn cửa biển.
Buổi trưa, Thoa mở rương, lấy chiếc mặt nạ thật ra, đặt lên bàn hoá trang. Cô lật mặt trong lên. Bà Tám đặt bên cạnh một nghiên mực tàu nhỏ và cây bút lông.
Cô nhìn dòng chữ "Kiều Thoa" nét móc dài của má. Cô nhìn khoảng gỗ trống bên cạnh.
Trên cái mặt giả, cô đã viết "Bính Ngọ" ở Vĩnh Phước, bằng nét chữ nghiêng nhỏ của cô, vì lệ là phải có năm. Cái mặt nạ đó không phải của cô Ngọc Nữ. Cái tên trên đó không phải chữ má.
Cô nhúng bút. Cô viết, cạnh tên mình, hai chữ "Bính Ngọ". Nét chữ nghiêng, nhỏ, khác hẳn những dòng bên trên. Chữ của cô.
– Má con viết tên con. – Cô nói với bà Tám. – Năm thì con tự viết.
Bà Tám gật đầu. Bà không nói gì. Bà cầm cái quạt nan, quạt nhẹ cho mực khô.
Ba giờ chiều, Thoa ra mé nước. Chú Ba Trọng vẫn ngồi đó, trên một gốc đước lớn trồi lên khỏi bùn, hai tay đặt trên đầu gối. Nước đang ròng, bãi bùn lộ ra loang loáng, mấy con còng gió chạy lăng xăng rồi chui tọt xuống lỗ.
– Đêm nay chú ngồi đâu? – Chú hỏi trước, không quay lại.
Thoa nghĩ một chút.
– Chú ngồi ở cổng đình. – Cô nói. – Cái cổng thiệt, dưới cây mù u. Cuối sân.
Chú Ba quay lại nhìn cô. Chú không hỏi tại sao. Chú gật đầu.
– Sáng mai, – chú nói, – chú đi với thằng Đờn lên trụ sở công an. Chú gọi hỏi rồi. Người ta nói cứ lên, người ta làm việc.
– Dạ.
Chú quay mặt ra cửa biển lại. Thoa đứng thêm một chút. Rồi cô đi về. Cô không nói gì thêm. Cô thấy không có câu nào đúng để nói.
Bốn giờ, Thụ tìm cô ở buồng hoá trang. Anh cầm cái máy ghi âm nhỏ, cái micro trên giá, cái máy quay.
– Tui đặt micro sau trống chầu. – Anh nói. – Như ở Vĩnh Phước. Chỗ đó nghe rõ nhứt. Cô cho tui ghi lớp chót không?
Thoa nhìn cái máy ghi âm nhỏ xíu trong tay anh. Cô nhớ cái đêm ở Vĩnh Phước, cặp tai nghe, tiếng ngân thứ hai trễ nửa nhịp, chữ "về" vút lên rồi buông.
– Anh ghi đi. – Cô nói. – Mà anh nghe một mình trước. Rồi mới cho em nghe.
– Răng rứa?
– Em không biết. – Cô nói. – Em chỉ muốn vậy.
Thụ gật đầu. Anh đi ra, đặt cái giá micro ngay sau trống chầu, chỉnh tới chỉnh lui, cột dây cho chắc phòng gió.
Năm giờ chiều, ông Hai Lịch chống gậy đi tới chỗ ông Năm đang ngồi trên ghế bố. Trên tay ông cầm một cái gói vải dài.
– Ban quý tế xin mời anh Năm cầm chầu đêm nay. – Ông nói. – Anh là con bà Bảy. Không ai hơn anh.
Ông mở cái gói vải. Bên trong là một cây dùi trống chầu bằng gỗ, cán đã đen bóng vì tay người cầm, đầu dùi bọc vải đã sờn.
– Dùi của ba tao. – Ông Hai Lịch nói. – Đêm đó ổng cầm cây này. Ổng giơ lên mà ổng không đánh. Ổng giữ nó tới chết. Tao giữ tới giờ.
Ông Năm nhìn cây dùi. Ông đưa hai tay ra nhận lấy, như người ta nhận một vật thờ.
Ngoài cửa biển, phía chân trời, một dải mây đen lại đang kéo vô.
— Hết chương 33 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe