Chương 35: Hai giọng trong băng
Gần sáng, Thoa thức dậy trên một cái chiếu trải ở buồng hoá trang, đầu gối lên cái gói áo thụng, cái khăn voan trắng viền chỉ bạc đắp ngang ngực. Cô không nhớ mình ngủ lúc nào.
Đêm qua không ai ngủ được. Tan hát, người làng không chịu về. Họ đứng dưới mưa, rồi mưa tạnh, họ vẫn đứng. Mấy bà già lên tận sân khấu nắm tay Thoa, sờ mặt cô, như để biết chắc là mặt người. Ông Hai Lịch ngồi sụp xuống bậc tam cấp chánh điện, khóc như con nít. Bà Út Chà được cháu gái dìu về từ sớm, vừa đi vừa ngoái lại, không nói gì với ai về cái mà bà đã chỉ tay.
Chú Ba Trọng đứng ở cổng đình tới gần hai giờ sáng. Đờn ra kêu ba lần chú mới vô.
Bà Tám đặt chiếc mặt nạ thật lên cái bàn thờ Tổ tạm trong nhà võ ca, nằm ngửa trên tấm vải điều, cạnh bát nhang. Cái hộp ấn bọc vải đỏ sờn bạc bà đặt bên cạnh. Ông Năm ngồi trên ghế đẩu trước bàn thờ, cây dùi chầu của ông chánh bái năm xưa đặt ngang trên đùi, ngồi như vậy suốt tới khi Thoa thiếp đi.
Ngò thì ngồi với Thoa trong buồng hoá trang tới gần ba giờ. Con nhỏ không khóc nữa. Nó ngồi ôm đầu gối, cái điện thoại úp trên chiếu trước mặt.
– Chị Thoa. Đêm nay em không quay. – Nó nói. – Từ đầu tới cuối em không quay một giây nào. Em để điện thoại trong túi.
– Sao vậy em?
– Em không biết. – Ngò nói. Rồi nó nghĩ một chút. – Em muốn coi bằng mắt em. Cả mùa em coi chị qua cái màn hình. Đêm nay em muốn coi thiệt.
Nó ngập ngừng.
– Lúc chị ngồi trên cái ghế, em đứng ở cánh gà. – Nó nói nhỏ hơn. – Em thấy… Em không biết em thấy cái gì. Em thấy chị ngồi đó, mà em thấy giống như cái ghế nó chật. Giống như có hai người ngồi. – Nó lắc đầu. – Chắc em mệt.
Thoa không hỏi thêm. Cô kéo con nhỏ lại, để nó ngả đầu lên vai mình. Một lúc sau Ngò ngủ, miệng còn há ra như con nít.
Bây giờ trời hửng sáng. Ánh sáng xám xanh lọt qua khe tấm bạt. Ngoài kia có tiếng gà, tiếng sóng, tiếng ai quét lá mù u sột soạt.
Thoa ngồi dậy, đi ra bàn thờ Tổ.
Ông Năm vẫn ngồi trên ghế đẩu. Ông ngủ gục, cằm tì lên ngực, tay còn nắm hờ cây dùi. Sợi chỉ đỏ trên cổ tay ông ướt, sẫm lại.
Chiếc mặt nạ nằm ngửa trên tấm vải điều.
Dưới khoé mắt trái, trên giọt lệ vàng, có một giọt nước.
Một giọt thôi. Tròn, trong, đọng ngay trên đường gồ của vết trám, ở chỗ giọt lệ bắt đầu chảy xuống. Ánh sáng ban mai rọi vô, giọt nước lấp lánh như một hạt thuỷ tinh.
Thoa đứng nhìn nó. Cô không đưa tay ra.
Thụ đứng sau lưng cô từ lúc nào. Anh nhìn giọt nước, rồi ngước lên nhìn mái tôn nhà võ ca. Ngay trên bàn thờ, chỗ hai tấm tôn chồng mí lên nhau, có một vệt ẩm đọng nước mưa đêm qua. Một giọt nước khác đang lớn dần ở mép tôn, chậm rãi, chưa rớt.
– Mái dột. – Thụ nói nhỏ. – Hoặc sương. Sáng ra sương đọng trên gỗ sơn.
– Dạ.
Thụ không nói gì thêm. Anh nhìn giọt nước trên mái tôn. Nó vẫn chưa rớt.
Ông Năm đã thức. Ông không biết thức từ lúc nào. Ông ngồi trên ghế đẩu, mắt mở, nhìn chiếc mặt nạ.
Bà Tám đi vô, cầm cái khăn mềm, định lau.
– Để đó. – Ông Năm nói.
Bà Tám dừng tay.
– Để đó. – Ông nói lần nữa, nhẹ hơn. – Đừng có chùi.
Giống hệt cái đêm ở Lạch Bà, dấu bàn tay đứa nhỏ trên gương. Bà Tám nhìn ông. Rồi bà gấp cái khăn lại, đặt xuống.
Thụ chạm nhẹ vô khuỷu tay Thoa.
– Tui nghe rồi. – Anh nói. – Cả đêm. Cô biểu tui nghe một mình trước.
Hai người ra ngồi ở bậc thềm nhà võ ca, nhìn ra cửa biển. Biển sau giông xanh xám, lặng như mặt hồ, mấy chiếc ghe cào đã ra khơi, chấm đen nhỏ xíu ở chân trời. Thụ lấy cặp tai nghe ra, đưa cho cô.
– Đoạn lớp chót. – Anh nói. – Từ lúc cô đứng dậy khỏi cái ghế.
Thoa đeo tai nghe. Thụ bấm nút.
Tiếng mưa. Tiếng gió. Tiếng trống chiến của ông Sáu xa xa. Tiếng trống chầu của ông Năm, gần, to, ngay sát micro. Tùng.
Rồi giọng cô.
Nước đưa đi rồi nước đưa về.
Giọng cô đi qua lớp gỗ, trầm, xa. Cô nghe nó mà không nhận ra nó là của mình. Rồi cô nghe cái thứ Thụ muốn cô nghe.
Có một giọng thứ hai.
Nó không chìm dưới giọng cô như tiếng ngân ở Vĩnh Phước. Nó không trễ nửa nhịp. Nó đi trước.
Trước giọng cô chừng nửa nhịp, rất nhỏ, rất mỏng, có một giọng đàn bà hát từng chữ. Không ngân, không luyến. Hát thẳng, gọn, từng chữ một, như người ta đọc chậm cho một người khác chép. Rồi giọng cô hát theo sau, đúng những chữ đó, như người chép.
Trả ấn rồi, tay nhẹ như sương.
Giọng kia đi trước. Giọng cô đi theo.
Đèn ai thắp đó, thôi ai đừng đợi.
Giọng kia đi trước. Giọng cô đi theo.
Rồi im. Tiếng mưa. Tiếng trống chầu. Tùng. Cái khoảng cô đứng giữa sân khấu, không còn câu nào trong đầu. Cô nhớ cái khoảng đó. Cô nhớ nó dài như một đêm.
Rồi trong tai nghe, giọng kia hát, một mình, rất nhỏ, gần như chìm vào tiếng mưa:
Ai đội mặt ta, ta trả mặt cho người.
Và nửa nhịp sau, giọng cô hát lại câu đó.
Thoa giật tai nghe ra. Bàn tay cô không lạnh. Cô ngạc nhiên vì bàn tay mình không lạnh.
– Tui nghe hai mươi mấy lần. – Thụ nói. Giọng anh khàn đi vì thức trắng. – Tui tắt hết tiếng trống, lọc tiếng mưa. Nó vẫn còn. Micro đặt sau trống chầu. Bà Mười ngồi sát đó.
Bà Mười Gừng đi ngang, bưng một nồi cháo trắng từ bếp lên. Thụ đứng dậy, xin bà nghe. Bà đặt nồi cháo xuống bậc thềm, đeo tai nghe, lóng ngóng như người lần đầu cầm cái máy. Thụ bấm.
Bà nghe. Mặt bà không đổi. Bà nghe hết, rồi gỡ tai nghe ra, trả cho Thụ.
– Lúc con ngồi trên ghế, tui có ngân một tiếng. – Bà nói. – Cái miệng tui tự ngân. Tui nhận. Mà lúc con đứng dậy hát lớp chót, tui khóc. Tui khóc không ngóc đầu lên được. Tui có hát được chữ nào đâu, con.
Bà nhìn ra cửa biển một lúc.
– Mà cái giọng đó cũng đâu phải giọng tui. – Bà nói. – Tui hát chữ nào cũng luyến. Cái giọng đó hát thẳng băng.
Bà bưng nồi cháo vô trong.
Ông Năm cũng nghe. Thụ đem cái máy vô cho ông, ông ngồi trên ghế đẩu trước bàn thờ, đeo tai nghe bằng hai bàn tay run. Ông nghe rất lâu. Thoa đứng ở cửa nhìn. Ông nghe xong, gỡ tai nghe ra, đặt cái máy lên đùi.
Ông không nói gì. Ông đứng dậy, không chống gậy, đi ra sân khấu, nơi cái ghế dầu chạm sen vẫn đứng giữa sàn, còn ướt mưa tạt đêm qua. Ông ngồi xuống sàn ván, ngay cạnh chân ghế. Không ngồi lên. Ngồi bên cạnh. Một tay ông đặt lên tay vịn ghế, như đặt lên cánh tay một người.
Ông ngồi như vậy, nhìn ra biển.
Lúc mặt trời lên khỏi rừng đước, Thoa thấy ông Sáu Kình với bà Mười Gừng đi dọc bãi bùn mé biển. Hai người đi chậm, cách nhau một sải tay, rồi gần lại, rồi lại cách ra, như hai chiếc ghe trôi chung một con nước. Ông Sáu chống cây dùi trống chiến như chống gậy. Bà Mười xách đôi dép nhựa trên tay, đi chân không trên bùn.
Họ dừng lại ở chỗ một cây đước già ngã ngang hồi giông. Ông Sáu nói gì đó. Bà Mười lắc đầu. Ông Sáu nói tiếp. Bà Mười đứng im một lúc lâu, rồi gật đầu.
Lúc hai người đi ngược về đình, ngang qua bậc thềm chỗ Thoa ngồi, ông Sáu dừng lại.
– Ông biểu bả về Rạch Gáo. – Ông nói với Thoa, giọng sang sảng như hồi đầu mùa. – Bả không chịu ở nhà Tổ. Bả nói bả bán chè ở cổng nhà Tổ. Ông nói thì bán. Bán ở đó, ông ra ăn. Cay cỡ nào ông cũng ăn.
– Tui nấu bớt cay. – Bà Mười nói.
– Đừng có bớt. – Ông Sáu nói.
Ông Hai Lịch chống gậy ra sân khấu, đứng nhìn cái ghế dầu chạm sen. Ông hỏi ông Năm có cho khiêng nó vô gian bên lại chưa. Ông Năm lắc đầu.
– Để nó ở ngoài này một bữa, anh Hai. – Ông nói. – Sáu mươi chín năm nó ngồi trong tối. Cho nó phơi nắng một bữa.
Ông Hai Lịch gật đầu. Hai ông già đứng hai bên cái ghế trống, nhìn nắng sớm bò dần lên tay vịn, lên lưng ghế chạm sen, lên chỗ mặt ghế còn ướt.
Bảy giờ sáng, chú Ba Trọng xách cái túi vải ra xe tải.
Đờn đã nổ máy, ngồi trong cabin chờ. Chú Ba không đi liền. Chú vô nhà võ ca, quỳ trước bàn thờ Tổ, lạy ba lạy. Chú không nhìn chiếc mặt nạ. Chú nhìn bát nhang. Rồi chú đứng dậy, đi tới trước mặt ông Năm vừa từ sân khấu vô.
– Anh Năm. – Chú nói. – Con đi.
Ông Năm nhìn chú. Hai người đàn ông, một già một bớt già, đứng đối diện nhau, như bốn mươi ba năm trước, cái năm thằng nhỏ mười lăm tuổi tên Trọng xách cái túi vải tới cổng nhà Tổ xin vô gánh.
– Ừ. – Ông Năm nói. – Đi đi. Nói hết với người ta. Nói luôn chuyện tao thấy mà tao không hỏi. Người ta kêu thì tao lên.
– Dạ.
Chú Ba quay qua Thoa. Chú đứng đó một lúc. Chú mở miệng, như định nói gì. Rồi chú chỉ nói:
– Con hát hay. Má con…
Chú không nói hết.
– Chú đi đi. – Thoa nói.
Chú Ba gật đầu. Bà Mười Gừng đi tới, dúi vô tay chú một cái cà mèn nhôm, nắp cột dây thun.
– Chè. – Bà nói. – Đường xa.
Chú cầm lấy. Chú leo lên cabin xe tải, ngồi cạnh Đờn. Xe tải lăn bánh, chạy chậm qua cái cổng đình bằng gạch dưới gốc mù u, ra con đường đal giữa rừng đước. Thoa đứng ở cổng nhìn theo cho tới khi cái thùng xe tải khuất sau một khúc quanh, lá đước khép lại.
Thụ đứng cạnh cô.
Một lúc lâu, anh đưa tay ra, nắm lấy bàn tay cô. Bàn tay phải, bàn tay đã đặt cạnh dấu tay đứa nhỏ trên tấm gương ở Lạch Bà. Anh không nắm chặt. Anh chỉ nắm, như người ta nắm tay một người vừa đi một con đường dài về.
Thoa không rút tay ra.
– Anh Thụ. – Cô nói. – Anh có tin không?
Thụ nghĩ rất lâu. Ngoài kia, một con chim bói cá lao xuống mặt rạch, rồi bay vụt lên.
– Tui tin là cô hát được lớp chót. – Anh nói. – Còn cái chi khác, tui ghi lại hết rồi. Để người sau nghe.
— Hết chương 35 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe