Chương 10: Đất đỏ Tân Lộc
Lá cao su rụng đỏ cả mặt đường.
Từ biển lên, gánh Phước Xuân đi mất hai ngày. Bỏ lại sau lưng những đồi cát trắng và hàng phi lao cong vẹo, chiếc xe khách bò lên vùng đất đỏ. Rừng cao su chạy dài tít tắp hai bên đường, thân cây xám bạc thẳng hàng như lính đứng duyệt binh. Đang mùa cây thay lá. Lá già vàng úa, đỏ bầm, rụng xuống phủ kín mặt đất, mỗi lần xe chạy qua lại cuốn lên một trận lá xoáy tròn. Trên cành, chồi non mới nhú, màu xanh nhạt như lá mạ.
– Mùa này người ta nghỉ cạo mủ. – Ông Sáu Kình nói, nhìn qua cửa sổ. – Cây thay lá, cạo là cây chết. Phu cao su hồi xưa mùa này đi coi hát.
Từ sáng hôm rời Lạch Bà, trong xe ít ai nói chuyện. Đờn lái xe tải chạy trước, không ghé lại chỗ nghỉ trưa ăn cơm chung với cả gánh mà mua ổ bánh mì ăn một mình trong cabin. Ông Năm ngủ gần như suốt chặng, đầu ngoẹo vào cửa kính. Bà Tám lần chuỗi hạt. Ngò ngồi bấm điện thoại, thỉnh thoảng liếc về phía Thoa, rồi lại cúi xuống.
Chiều hai mươi hai, ở trạm dừng nghỉ cuối cùng trước khi rẽ vô làng Tân Lộc, Thoa đi ra chỗ xe tải. Đờn đang ngồi trên bậc cabin, hút thuốc.
– Anh Đờn.
Anh giật mình, định dụi thuốc, rồi thôi.
– Em giận anh hả?
– Em không giận anh. – Thoa ngồi xuống bậc cabin, bên cạnh anh. Mùi dầu nhớt, mùi thuốc lá, mùi mồ hôi đàn ông. Cái mùi cô nhớ từ hồi nhỏ, những đêm ngủ trong xe tải. – Em biết ông biểu thì anh làm. Từ hồi em nhỏ xíu, ông biểu gì anh cũng làm.
Đờn cúi đầu, xoay xoay điếu thuốc trên tay.
– Ông nuôi anh từ hồi đỏ hỏn. Anh không có cha có mẹ. Ông nói gì thì anh nghe.
– Em biết.
– Mà anh không muốn em đội cái đó đâu, bé Thoa. – Anh nói, giọng khàn đi. – Không phải ông biểu anh mới làm. Anh cũng muốn em đi về. Năm đó anh hai mốt tuổi. Anh nhớ hết. Anh nhớ má em nằm dưới chân gác chuông. Anh không muốn thấy lại lần nữa.
Thoa vòng tay ôm lấy cái vai to bè, cứng như gỗ của anh. Anh cứng người lại một chút, rồi thả lỏng, rồi khóc. Đờn khóc như con nít, không ra tiếng, chỉ có hai vai rung lên từng chặp.
Làng Tân Lộc nằm lọt thỏm giữa rừng cao su, những dãy nhà cấp bốn lợp ngói, tường vàng, xây theo kiểu nhà làng phu đồn điền cũ, giờ đã sửa sang lại nhiều. Đình Tân Lộc nằm ở trung tâm làng, dưới tán một cây sao cổ thụ cao vút. Đình làm bằng gỗ, cột gỗ căm xe đen bóng, mái ngói âm dương, vách ván. Đình nhỏ, nhưng sạch sẽ, gọn gàng, mỗi góc đều có dấu vết của người chăm chút.
Người chăm chút là ông Chín Tộ, thủ từ. Ông tám mươi sáu tuổi, người cao gầy, lưng vẫn còn thẳng, chống một cây gậy gỗ cẩm lai bóng loáng. Mắt ông đã kém lắm, một bên đục mờ hẳn, bên kia còn thấy lờ mờ. Ông đón gánh ở bậc tam cấp, đưa tay ra quờ quạng, nắm lấy tay ông Năm, sờ lên mặt ông Năm.
– Thằng Năm. Con bà Bảy Ngọc. Đúng rồi. Cái gò má này đúng rồi.
– Dạ, anh Chín còn nhớ.
– Nhớ chớ. – Ông Chín Tộ cười, hàm răng giả trắng bóng. – Hồi đó tao mười bảy, mày mười tuổi. Mày chạy lon ton theo má mày, tay ôm cái hộp ấn, không cho ai đụng.
Đêm hai mươi hai và hai mươi ba, gánh hát tuồng thầy. Bà con làng Tân Lộc tới đông, người làng phu cũ, con cháu của những người từng đi cạo mủ từ thời đồn điền. Họ coi hát rất say, rất chăm chú, la hét, vỗ tay, có ông già ngồi hàng đầu khóc rưng rức ở lớp trung thần chết trận.
Chiều hai mươi ba, Thoa ngồi với ông Chín Tộ dưới gốc cây sao. Thụ ngồi bên cạnh, cái máy ghi âm trên đùi. Lá sao khô rơi lả tả, cánh lá xoay xoay như chong chóng.
– Bà Bảy Ngọc tập lớp chót dưới gốc cây sao này. – Ông Chín Tộ nói, tay vuốt vuốt gốc cây sần sùi. – Ban đêm, sau khi hát xong, cả gánh ngủ hết. Tao không ngủ được, đi ra đây hút thuốc. Thấy bà ngồi một mình, hát nho nhỏ. Tao đứng sau cột đình nghe.
– Ông còn nhớ câu nào không ông?
– Nhớ một câu. – Ông ngẩng mặt lên, đôi mắt mờ đục nhìn lên tán cây như nhìn được thứ gì trên đó. – "Đèn ai thắp đó, thôi ai đừng đợi."
Ông hát. Giọng ông khàn đặc, không ra nhạc, nhưng chữ thì chậm rãi, rõ ràng.
– Bà hát câu đó xong thì bà khóc. – Ông nói. – Tao đứng sau cột thấy bà khóc. Bà khóc một hồi, rồi bà hát lại từ đầu. Câu đó bà hát lại bảy tám lần. Lần nào hát xong cũng khóc.
Thoa thì thầm câu hát trong miệng, ghép nó với câu của bà Thiệt. "Trả ấn rồi, tay nhẹ như sương. Đèn ai thắp đó, thôi ai đừng đợi." Hai câu không chắc đi liền nhau. Nhưng khi đặt chúng cạnh nhau, cô thấy trong lồng ngực mình có cái gì đó khẽ rung lên, như một sợi dây đờn bị ai búng nhẹ.
Tối hai mươi ba, có một chiếc xe màu bạc đậu ngoài cổng đình.
Quan Bửu bước xuống, vẫn áo sơ mi trắng, kính gọng mảnh. Ông ta đi thẳng tới chỗ ông Năm đang ngồi, chắp tay chào.
– Anh Năm. Tình cờ quá. Tôi có mấy mẫu cao su ở xóm bên, lên coi người ta làm cỏ. Nghe nói gánh mình về đây hát, ghé chào anh.
Ông Năm nhìn ông ta, không nói gì. Chú Ba Trọng đứng phía sau, Thoa thấy hai vai chú cứng lại.
– Tôi mời anh Năm với chú Ba đi uống ly cà phê, nói chuyện chút xíu. – Quan Bửu nói. – Mười lăm phút thôi. Có cả cô Thoa nữa thì càng tốt.
Quán cà phê ở đầu làng, mái lá, mấy bộ bàn ghế gỗ đặt dưới tán cao su. Quan Bửu gọi bốn ly cà phê sữa đá. Ông ta không vòng vo.
– Anh Năm. Tôi nói thẳng. Tôi biết gánh mình đi tới đâu, thu được bao nhiêu. Đình Lạch Bà trả có ba chục triệu, phải không? Mấy đình sau chưa chắc đã hơn. Tới rằm tháng Ba, anh thiếu tôi ít nhứt năm bảy chục triệu.
Ông Năm cầm ly cà phê, không uống.
– Tôi đề nghị vầy. Anh bán tôi hai cái rương ngay bây giờ. Tôi xoá nợ ba trăm triệu, đưa thêm anh một trăm triệu tiền mặt. Anh khỏi phải đi tiếp bốn đình nữa. Cho anh em nghỉ ngơi. Cho cô Thoa khỏi phải đội cái mặt nạ đó.
Thoa nhìn ông ta. Ông ta nhìn lại cô, ánh mắt ôn hoà, như người đang nói một chuyện hết sức có lý.
– Gánh tôi đi đủ bảy đình. – Ông Năm nói. – Rằm tháng Ba tôi trả ông đủ.
– Anh Năm à…
– Tôi không bán.
Quan Bửu thở ra, lắc đầu, nhưng vẫn cười. Ông ta khuấy ly cà phê, cục đá kêu leng keng.
– Thôi được. Còn một chuyện nữa. Nếu gánh anh còn giữ cái mặt nạ đời đầu, cái mà thợ Huế làm cho bà cụ nhà anh năm năm mươi hai, thì tôi xin mua riêng. Giá gấp ba cái giá anh nghĩ.
– Gánh tôi có một cái. – Ông Năm nói, lần thứ hai trong mười ngày. – Không có đời đầu đời sau.
Quan Bửu không nhìn ông Năm. Ông ta nhìn chú Ba Trọng. Một cái nhìn ngắn, chưa tới một giây, rồi trở lại ly cà phê. Chú Ba Trọng cúi xuống, nhìn mặt bàn.
Thoa thấy hết.
Lúc ra về, Quan Bửu đi chậm lại một chút để đi song song với Thoa.
– Cô Thoa. – Ông ta nói nhỏ. – Tôi coi clip đèn tắt ở Vĩnh Phước rồi. Cô hát hay lắm. Mà tôi nói thiệt, cô đội cái đó, cô coi chừng.
– Coi chừng cái gì?
Quan Bửu mỉm cười, không trả lời, mở cửa xe bước vô.
Đêm đó, sau buổi hát, Đờn tự xin thức canh rương.
Anh không nói ra, nhưng Thoa hiểu. Anh muốn chuộc lại. Anh kê cái ghế bố ngay trước buồng hoá trang, ngồi đó với cái đèn pin và một bình trà đậm, nói với cả gánh "Ai đụng vô cái rương thì phải bước qua xác tui".
Gần ba giờ sáng, Thoa đang ngủ thì nghe tiếng Đờn quát lên ngoài kia.
– Thằng nào đó!
Rồi tiếng chân chạy rầm rập. Tiếng ghế bố đổ. Tiếng lá cao su khô răng rắc dưới chân người.
Cả gánh choàng dậy. Thoa chạy ra. Bà Tám đã ở trong buồng hoá trang, quỳ trước cái rương sơn đen, rọi đèn pin vào ổ khoá đồng.
Ổ khoá vẫn còn khoá. Nhưng quanh lỗ khoá có mấy vết cào mới, sáng loáng trên lớp đồng xỉn màu, như có ai lấy một vật nhọn chọc vô lỗ, xoay qua xoay lại.
Mười lăm phút sau, Đờn mới quay về, thở hồng hộc, mồ hôi đầm đìa, quần áo dính đầy lá cao su và đất đỏ.
– Mất dấu rồi. – Anh nói, chống hai tay lên đầu gối thở. – Một thằng, mặc đồ tối. Anh đang gật gù thì nghe tiếng lách cách trong buồng. Anh rọi đèn thì nó phóng ra cửa sau, chạy vô lô cao su. Anh đuổi theo. Mà trong đó tối thui, cây nào cũng giống cây nào, nó chạy qua mấy hàng là anh không thấy nữa.
– Anh thấy mặt nó không? – Chú Ba Trọng hỏi.
– Không. Nó trùm đầu.
Đờn xoè bàn tay ra. Trong lòng bàn tay anh là một cây vặn vít nhỏ, cán nhựa màu vàng, đầu dẹt, mũi đã mòn.
– Nó làm rớt cái này ở cửa sau.
Cả gánh nhìn cây vặn vít. Một cây vặn vít bình thường, chợ nào cũng bán. Thoa nhìn quanh những gương mặt dưới ánh đèn pin chập chờn. Chú Ba Trọng, mặt tái. Ông Năm, đứng tựa vô cột. Ông Sáu Kình. Chú Út Bền ôm vai chị Hai Ngộ. Thằng Tồ với Ngò. Sển, đứng phía sau cùng, tay cầm cái đèn pin, rọi xuống đất.
Thụ đứng cạnh Thoa. Anh nói rất nhỏ, chỉ đủ cho cô nghe:
– Ông Bửu hỏi về cái mặt nạ đời đầu. Rồi đêm nay có người cạy rương.
Thoa gật đầu. Cô cũng đang nghĩ đúng như vậy.
Sáng ra, ông Chín Tộ chống gậy tới chỗ gánh, hỏi thăm chuyện đêm qua. Ông lắc đầu, thở dài, nói làng ông xưa nay chưa ai mất trộm cái gì trong đình. Rồi trước khi đi, ông dừng lại, như mới nhớ ra.
– À, mà chiều hôm qua có một người hỏi tao một chuyện lạ.
– Chuyện gì ông? – Thoa hỏi.
– Hỏi mỗi sáng tao mở cửa đình lúc mấy giờ. Tao nói năm giờ. Rồi hỏi tao có thắp đèn trên bàn thờ chánh điện ban đêm không. Tao nói không, tao thắp nhang buổi chiều thôi. – Ông Chín Tộ gãi đầu. – Giọng đàn ông, nhỏ nhẹ, lễ phép lắm. Tao mắt kém, nhìn không ra mặt. Tao tưởng người trong gánh.
— Hết chương 10 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe