Chương 20: Thằng con không nhớ gì
Bà Mười Gừng đứng ở cửa chòi. Bà không bước ra. Bà vịn tay vô cây cột lá, đứng đó, nhìn thằng con trai to con của mình đang áp lưng vô vách lá như người ta núp mưa.
Đờn không nhìn bà. Anh nhìn con cua đồng đã bò xuống mép nước.
– Bà tưởng tui giết con Lệ. – Anh nói. Không phải câu hỏi.
Bà Mười không trả lời.
– Bà tưởng tui leo lên gác chuông, tui làm gì đó với con Lệ, rồi tui ôm cái gì đó chạy xuống. – Đờn nói tiếp, giọng đều đều, như đọc lại một tờ giấy ai đưa cho. – Mười sáu năm bà tưởng vậy. Bà đi theo coi tui suốt mùa này. Bà đứng dưới đèn đường. Bà đứng dưới gốc sao. Bà hát ngoài sông. Mà bà không tới gặp tui, tại bà tưởng tui giết người.
– Đờn. – Bà Mười nói.
Đó là lần đầu tiên bà gọi tên anh. Thoa thấy hai vai Đờn giật lên một cái, như bị ai quất roi.
– Bà đừng kêu tên đó. – Anh nói. – Tên đó ông Năm đặt.
Rồi anh quay qua Thoa. Mắt anh đỏ, nhưng khô.
– Em nói anh không mặc áo mưa lúc ngủ. Em nói chưa chắc là anh. – Anh lắc đầu. – Bé Thoa, em tốt với anh. Mà em không biết. Anh cũng không biết. Anh không nhớ. Anh không nhớ anh cởi áo mưa lúc nào. Anh không nhớ anh có leo lên khỏi ghe hay không. Anh không nhớ gì hết từ ly thứ mấy. Có khi anh thức dậy, anh đi lên đình, anh thấy cái gì đó, anh làm cái gì đó, rồi anh quay xuống ghe ngủ tiếp. Người say làm vậy hoài. Em hỏi chú Út Bền coi, ổng say đi tiểu ngoài ruộng rồi về ngủ, sáng ra thề không có đi đâu.
– Anh Đờn…
– Anh không biết có phải anh không. – Đờn nói. – Mười sáu năm nay anh sợ đúng cái đó. Anh sợ mà anh không dám nói ra. Bây giờ có người thấy rồi.
Anh gỡ cái khăn voan trên vai xuống. Anh cầm nó một lúc, hai bàn tay to bè vò nhẹ lớp vải mỏng. Rồi anh đặt nó lên cái băng ghế ván trước cửa chòi, ngay chỗ bà Mười đứng, gấp lại cho ngay ngắn, như người ta trả lại một món đồ mượn.
– Bà giữ đi. – Anh nói. – Đồ của bà.
Rồi anh đi. Anh đi dọc bờ đê, ngược về phía chợ, bước dài, không quay lại. Bà Mười đứng ở cửa chòi nhìn theo. Bà không gọi nữa. Bà cầm cái khăn lên, ôm vô ngực, đứng như vậy cho tới khi cái lưng anh khuất sau hàng dừa nước.
Thoa đứng giữa hai người. Cô không biết đi theo ai.
– Con về đi. – Bà Mười nói, không quay lại. – Nó không giận con. Nó giận tui.
– Bà đi đâu?
– Mỹ Lương. – Bà nói. – Quê tui ở Mỹ Lương. Ông thầy đồ dạy tui viết chữ ở đó. Tui đi đò qua sông, đón xe xuống. Cái nhà cũ của tui chắc không còn. Mà chắc còn cái đình.
– Gánh cũng xuống Mỹ Lương.
– Tui biết. – Bà nói. – Đình nào ngày nào, tui thuộc hết rồi, con.
Thoa đi bộ về đình Phước Lý một mình. Nắng đã lên cao. Chợ đã nhóm, tiếng rao, tiếng xe máy, tiếng mấy bà bán cá cãi nhau. Cô đi qua nhà trọ của bà Năm Rớt, thấy bà đang nằm võng phe phẩy cái quạt mo cau, bà gọi với theo hỏi gặp bà Mười chưa. Cô gật đầu, không dừng lại.
Cô tìm ông Năm trước.
Ông ngồi ở gian khách đình, cái bàn gỗ còn để cuốn sổ bìa xanh với mấy cái phong bì từ hôm qua. Ông Sáu Kình ngồi đối diện, nhai trầu, hai ông già không nói gì với nhau, như hai cái cột đình. Thoa kéo ghế ngồi xuống giữa.
– Ngoại. Ông Sáu. – Cô nói. – Con gặp cô Chín Lựu rồi.
Ông Sáu Kình ngưng nhai.
Ông Năm đang cầm ly trà. Ông đặt nó xuống. Tay ông run, ly trà va vô mặt bàn kêu lách cách mấy tiếng rồi mới đứng yên. Ông nhìn xuống cái ly.
– Nó có khoẻ không? – Ông hỏi.
Thoa nhìn ông. Cô đã chuẩn bị cho nhiều thứ. Ông sẽ nói con nói bậy. Ông sẽ hỏi ở đâu, hồi nào, sao con biết. Ông sẽ đứng bật dậy. Cô không chuẩn bị cho câu này.
– Bà còng lưng. – Cô nói chậm. – Tay trái bị bỏng. Bà bán chè gừng dưới cù lao Tân Thạnh. Người ta kêu bà là bà Mười Gừng.
Ông Năm gật đầu. Chỉ gật đầu.
Ông Sáu Kình thì không gật đầu. Ông đứng dậy, chống tay lên mặt bàn, hai cánh tay gầy run lên bần bật. Ông nhìn Thoa, cái nhìn của người đang đứng trên một cây cầu khỉ mà không dám nhìn xuống nước.
– Nó ở đâu?
– Bà đi Mỹ Lương rồi ông. Bà nói quê bà ở đó.
– Mỹ Lương. – Ông Sáu lặp lại. Ông cười, một cái cười méo mó, nước mắt chảy ra hai bên khoé. – Mỹ Lương. Ông thầy đồ. Cái móc chữ.
Ông buông tay khỏi mặt bàn, quay đi, đi thẳng ra phía bến. Ông đi nhanh tới mức đôi dép kẹp tuột một chiếc ở bậc thềm mà ông không quay lại lượm.
Thoa còn lại với ông ngoại. Cô nhìn ông. Ông nhìn ly trà.
– Ngoại không hỏi con sao bà còn sống.
– Con muốn ông hỏi thì ông hỏi. – Ông nói. – Sao nó còn sống?
– Bà không nói. Bà nói có người sắp ghe cho bà. Bà hứa không nói tên người đó.
Ông Năm im lặng. Ông cầm ly trà lên, uống một hơi, đặt xuống.
– Ừ. – Ông nói. – Vậy thì con đừng hỏi.
Ông đứng dậy, chống gậy đi vô buồng. Thoa ngồi lại một mình trước cuốn sổ bìa xanh. Cô biết ông ngoại cô. Cô biết khi nào ông giận, khi nào ông mệt, khi nào ông nói dối. Cái "ừ" vừa rồi không phải ba thứ đó. Nó giống tiếng người ta thở ra sau khi đặt xuống một gánh nặng đã vác lâu tới mức quên là mình đang vác.
Trưa đó Đờn không về. Thằng Tồ đi kiếm dọc chợ, ra tận bến xe, không thấy. Thoa gọi mười mấy lần, máy anh đổ chuông rồi tắt. Tới lần thứ mười mấy thì máy tắt nguồn.
Ông Năm nghe Thoa kể chuyện ở chòi bến đò, kể đúng một nửa, cái nửa về đứa con nít ở cổng nhà Tổ. Cái nửa về người mặc áo mưa cam, cô giữ lại. Ông nghe xong, ngồi im một lúc, rồi nói:
– Kệ nó. Nó lớn rồi. Nó biết đường về.
Nhưng chiều đó Thoa thấy ông ra đứng ở cổng đình ba lần, chống gậy, ngó ra con đường đal dẫn vô chợ.
Đêm mùng Bốn là đêm cuối của gánh ở Phước Lý. Gánh hát một tuồng thầy. Không có Đờn, thằng Tồ leo giàn treo đèn một mình, Thụ đứng dưới chuyền dây giùm, kính cận tuột xuống tận chóp mũi. Vai tướng phụ của Đờn, chú Út Bền phải đóng thế, mặc áo giáp rộng thùng thình, mũ đội lệch, ra sân khấu bà con cười ồ. Chú cũng cười theo, rồi múa luôn một đường thương vụng về cho bà con cười thêm. Không ai trách. Ai cũng biết gánh đang thiếu người.
Thoa ngồi sau cánh gà với Thụ. Cô kể anh nghe nửa còn lại.
Thụ nghe xong, lấy khăn lau kính, lau rất lâu.
– Cô nói đúng một chỗ. – Anh nói. – Người ngủ dưới khoang ghe mà ướt hết thì lúc ngủ không mặc áo mưa. Mà cô nói chưa đủ một chỗ. Người ta cởi áo mưa ra, rồi thức dậy, rồi mặc vô lại, rồi đi, rồi về cởi ra. Ảnh nói đúng. Người say làm rứa được.
– Anh tin anh Đờn làm?
– Tui không tin chi hết. – Thụ đeo kính lại. – Tui chỉ nói cái áo mưa không cứu được ảnh. Muốn cứu ảnh thì phải biết người mặc nó là ai.
– Áo mưa nằm dưới băng ghế chót xe khách.
– Rứa thì phải hỏi đêm đó ai ngủ trên xe khách.
Thoa không cần hỏi lâu. Cô biết một người đã nói với cô, hai lần, rằng đêm đó chú ngủ trên xe khách.
Tan hát, cô đợi chú Ba Trọng ở chỗ để xe. Chú đang khiêng thùng đèn lên xe tải với thằng Tồ, áo ướt mồ hôi. Cô hỏi thẳng, không vòng vo. Chú đặt thùng đèn xuống, lấy khăn lau tay, lau kỹ từng ngón như mọi lần, như thể việc lau tay là một phần của việc trả lời.
– Đêm đó trên xe khách có năm bảy người ngủ. – Chú nói. – Chú, chú Út Bền, thằng Hai Cò kéo đờn hồi đó, mấy anh em phụ đèn. Ai đi tiểu cũng mở cửa xe, ai vô cũng ướt. Ai quăng cái áo vô dưới băng ghế, chú đâu có biết. Chú say mà con.
Câu trả lời hợp lý tới mức không bắt bẻ được chỗ nào. Chú nhìn cô bằng đôi mắt hiền mệt mỏi, chờ cô hỏi thêm. Cô không hỏi thêm. Cô chỉ thấy, lúc chú cầm cái khăn, bàn tay phải của chú nắm lại một chút, che đi đường sẹo trắng.
Gần nửa đêm, ông chánh bái đình Phước Lý tới gian khách đưa phong bì tiền hát. Bốn mươi lăm triệu, đếm đủ. Ông Năm cầm phong bì, cảm ơn, rồi nói với chú Ba ghi vô sổ. Chú Ba mở cuốn sổ bìa xanh, viết một dòng. Ông Năm ngồi nhìn chú viết.
– Thằng Ba. – Ông nói.
– Dạ.
Ông Năm im lặng một lúc lâu, lâu tới mức chú Ba ngẩng lên.
– Thôi. Không có gì. – Ông nói. – Đi ngủ đi.
Sáng mùng Năm, Đờn vẫn không về.
Gánh phải đi. Hợp đồng đình Mỹ Lương là đêm mùng Sáu, mà Mỹ Lương nằm bên sông Tiền, phải qua một cái bến phà, đi hết nửa ngày đường. Không có Đờn thì không có ai lái xe tải. Sển đứng ra, nói anh lái được, hồi trước anh lái xe tải chở hàng ở Chợ Lớn ba năm. Ông Năm nhìn anh một lúc, rồi đưa chìa khoá. Chú Ba Trọng ngồi vô tay lái xe khách.
Trước khi lên xe, Thoa thấy Sển đi một vòng quanh xe tải, đá đá mấy cái bánh, mở cửa cabin, nhìn vô hộc đựng đồ, nhìn dưới ghế, rồi mới leo lên. Anh ta làm kỹ như một người tài xế cẩn thận. Cô không nghĩ gì thêm.
Xe khách ra khỏi cổng đình lúc bảy giờ sáng. Bà Tám ngồi băng thứ ba, lần chuỗi hạt. Ông Sáu Kình ngồi sát cửa sổ, ôm cái trống chiến trong lòng, mắt nhìn ra đường, từ hôm qua tới giờ ông chưa nói một câu nào. Ngò ngồi với thằng Tồ, đầu ngả lên vai nó. Thụ ngồi bên kia lối đi, ôm cái ba lô. Ông Năm ngồi băng đầu, ngay sau lưng chú Ba.
Xe vừa quẹo ra con đường đal dẫn vô chợ thì ông Năm nói:
– Ngừng xe.
Chú Ba đạp thắng. Xe khựng lại, cả xe chúi về phía trước.
Ở đầu con đường, ngay chỗ cây me, có một bà già đứng. Nón lá. Áo bà ba màu nâu đất. Đôi quang gánh đặt dưới chân. Bà đứng sát lề, không đón xe, không vẫy xe. Bà chỉ đứng nhìn chiếc xe khách của gánh, như bà đã đứng dưới cây đèn đường ở đầu xóm Rạch Gáo hơn ba tuần trước.
Ông Năm chống gậy đứng dậy. Ông tự mở cánh cửa xe, cái cửa xếp kêu ken két. Ông đứng ở bậc lên xuống, nhìn xuống bà già dưới gốc me.
Bà già ngẩng lên. Hai người nhìn nhau qua khoảng cách vài bước chân và ba mươi tám năm.
Cả xe nín thở. Ông Sáu Kình đứng bật dậy, đầu đụng trần xe cái cốp, ông không biết.
Ông Năm không hỏi tên. Ông không hỏi đi đâu. Ông chỉ chìa bàn tay gầy guộc ra, giọng bình thường như gọi một người trong gánh đi trễ:
– Lên đi Lựu.
— Hết chương 20 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe