Chương 26: Mép gỗ bị mẻ
Cái ổ khoá trên thang tầng hai đã rỉ sét tới mức ông Bảy Lũy phải nhỏ dầu vô, lắc qua lắc lại cả phút mới xoay được cái chìa.
– Năm nào tui cũng mở có một lần, sáng mười bốn tháng Hai, để lên quét chân nhang. – Ông nói. – Ngoài bữa đó không ai mở.
Sáu giờ sáng mười một tháng Hai. Sương sông Hậu còn đọng trên lan can, trên mấy bậc thang gỗ, trên vai áo Thoa. Thụ leo trước, máy ảnh đeo trước ngực, một tay vịn thang. Thoa leo sau. Ông Bảy Lũy đứng dưới đất, chống tay lên cột, ngước nhìn.
Tầng một là một sàn ván rộng, ván cũ màu đen sẫm, có chỗ đã lún, có chỗ người ta đóng thêm miếng ván mới vá lại. Ở góc có mấy cái chiếu rách cuộn tròn, mấy cái bao tải đựng gì không biết, một cái lồng gà bỏ hoang. Từ tầng một lên tầng trên cùng là cái thang thứ hai, dốc gần như dựng đứng, nấc thang hẹp, chỉ đủ đặt nửa bàn chân.
Thoa leo cái thang đó, từng nấc một. Tim cô đập mạnh tới mức cô nghe thấy nó trong tai. Cô nghĩ tới má, mười sáu năm trước, đêm mưa, leo đúng cái thang này. Leo bằng đôi chân trần hay đi dép? Có cầm đèn không? Có run không?
Cô lên tới nơi.
Tầng trên cùng nhỏ, vuông vức, mỗi bề chừng hai sải tay. Bốn góc là bốn cây cột gỗ cũ đen bóng, đỡ cái mái ngói nhỏ. Giữa mái, treo trên một cây xà gỗ lớn bắc ngang, là quả chuông đồng. Nó lớn hơn cô tưởng, cao gần tới ngực cô, miệng chuông loe ra, thân chuông xanh rỉ, có mấy hàng chữ Hán đúc nổi đã mòn. Sợi dây đay buộc vô cái quả lắc bằng gỗ treo bên trong lòng chuông, thả xuống ngang tầm vai người đứng.
Bốn mặt là lan can. Lan can mới, gỗ dầu sáng màu, đóng chắc, cao ngang bụng. Thoa đặt hai tay lên lan can phía quay vô sân đình. Gỗ còn mùi dầu chống mối.
Dưới chân cô, cả cái sân đình trải ra như một tấm bản đồ. Mái chánh điện. Nhà võ ca với dàn đèn chưa tắt. Cái khoảng đất trống nhỏ ngay dưới chân gác chuông, cỏ thấp, ướt sương. Bãi đất trống bên kia có xe tải và xe khách đậu. Cây cột đèn ở đầu cầu tàu. Cái quán nước mái lá. Và xa hơn, xuôi theo bờ, cái chòi giữ ghe nhỏ xíu nằm sát mé nước.
Từ đây nhìn xuống, má đã thấy được hết. Nếu má có nhìn.
– Cô Thoa. – Thụ gọi nhỏ. – Cô qua đây coi.
Anh đứng ở phía sau quả chuông, mặt quay ra sông. Anh chỉ lên cây xà gỗ lớn bắc ngang, cây xà treo chuông. Ở phía sau quả chuông, khuất hẳn khỏi tầm nhìn của người đứng dưới sân đình, có một cây đinh sắt lớn, loại đinh đóng ghe, cắm xiên vô thớ gỗ, đầu đinh bẻ quặp lên thành cái móc. Cây đinh đã rỉ nâu, nhưng cái móc còn chắc.
– Đinh ni không phải để treo chi trong đình. – Thụ nói. – Đóng xiên, bẻ móc. Người ta đóng để máng một cái túi, một cái giỏ.
Thoa nhìn cây đinh. "Máng trên một cây đinh phía sau quả chuông." Ông Bửu nói vậy, ngồi trong quán nước ở bến phà Mỹ Lương, lau cặp kính.
– Còn chỗ ni. – Thụ chỉ xuống.
Ở phía lan can quay ra sông, ngay sát cây cột góc, cây xà ngang của tầng dưới chìa ra ngoài một chút. Cây xà đó bằng gỗ cũ, chưa thay. Mặt trên của nó mòn láng một vệt dài, láng hơn hẳn chỗ khác, như có cái gì cọ lên đó nhiều lần.
– Có người leo lên bằng ngả ni. – Thụ nói. – Không qua cái thang có khoá. Từ tầng một trèo ra ngoài, giẫm lên đầu xà, đu cột lên. Người không quen thì không dám. Người quen leo cột thì làm được.
– Mỗi năm một lần. – Thoa nói. – Ba cây nhang.
Thụ gật đầu.
Thoa quay lại, nhìn sợi dây chuông. Ông Bảy Lũy nói sáng hôm đó sợi dây vắt qua một bên lan can, như có ai quơ trúng. Cô đứng ở chỗ lan can quay vô sân đình, cái lan can cũ năm đó đã gãy một khúc. Sợi dây đong đưa cách vai cô chừng một gang tay. Một người đàn bà đứng đây, ngã ngửa ra sau, tay quơ lên.
Cô đưa tay ra, chạm vào sợi dây đay. Nó lạnh, ướt sương, thô ráp. Cô không giựt. Cô chỉ chạm, rồi buông.
Quả chuông im lặng. Chỉ có tiếng sông Hậu chảy bên dưới, rì rào, đều đều, như đã chảy suốt mười sáu năm không ngừng một đêm nào.
Hai người leo xuống. Ông Bảy Lũy khoá cái thang tầng hai lại, lắc thử ổ khoá ba lần, rồi chống tay đi về phía chánh điện, không hỏi gì.
Thoa ngồi xuống bậc gạch dưới chân gác chuông, ngay cạnh khoảng đất trống có cỏ thấp. Thụ ngồi xuống bên cạnh cô, lau ống kính máy ảnh bằng vạt áo.
– Cô tính răng? – Anh hỏi.
– Em không biết.
– Cô biết rồi. – Thụ nói. – Cô biết từ bữa ở bến phà. Cô chỉ chưa chịu.
Thoa nhìn đám cỏ thấp. Sương trên ngọn cỏ đã tan gần hết, chỉ còn đọng lại mấy hột ở dưới gốc, chỗ nắng chưa rọi tới.
– Anh Thụ. Em về đây để biết má em chết làm sao. – Cô nói. – Bây giờ em sắp biết rồi, em lại sợ. Em sợ biết rồi thì em phải làm cái gì đó. Mà em không biết em muốn làm cái gì.
Thụ không trả lời liền. Anh cất máy ảnh vô bao, kéo dây kéo lại.
– Đêm ni cô hát. – Anh nói. – Hát xong rồi tính. Tui ngồi dưới chân sân khấu. Cô hát tới mô, tui ghi tới đó.
Buổi trưa, Thoa mở rương.
Bà Tám ngồi bên cạnh, cầm sẵn tấm vải điều. Ông Năm nằm ngủ trưa trong nhà võ ca, thở khò khè. Cái chìa khoá đồng đeo trên cổ Thoa từ hôm ở trạm y tế, ông chưa đòi lại. Cô tra chìa, xoay, mở nắp. Hai chiếc mặt nạ nằm cạnh nhau, mỗi chiếc gói trong một lớp vải điều.
Cô lấy chiếc thật ra trước. Đêm nay là đêm thứ sáu. Cô muốn lau nó, muốn nhìn nó một lần cho kỹ dưới ánh sáng ban ngày. Từ sáng ở Tân Lộc tới giờ, cô chỉ cầm nó trong buồng hoá trang, dưới đèn sạc, dưới đèn dầu, những lúc tay đã run, mắt đã nhoè.
Cô đặt nó lên tấm vải điều, giữa ánh nắng trưa rọi qua khung cửa nhà võ ca. Gỗ mít, sơn ta trắng ngà. Đôi mày lá liễu. Chấm son. Giọt lệ vàng gồ lên một đường. Cô lấy khăn mềm lau từ trán xuống cằm, chậm rãi, như bà Tám lau mặt cho má cô hồi đó.
Lau tới mép bên phải, chỗ có cái lỗ nhỏ để luồn quai vải đỏ, đầu ngón tay cô vấp phải một cái gì đó.
Cô cúi sát xuống.
Ngay cạnh lỗ luồn quai, mép gỗ bị mẻ một miếng. Một miếng nhỏ, cỡ móng tay út, hình lưỡi liềm. Chỗ mẻ đã cũ, cạnh gỗ đã mòn tròn, lớp sơn quanh đó đã ngả màu, nên nếu không lau, không rờ, không nhìn sát thì không thấy. Quai vải đỏ buộc qua đó còn che mất một nửa.
Cô lật mặt nạ lại.
Mặt trong để gỗ mộc, nâu sẫm, láng bóng mồ hôi. Ngay sát chỗ mẻ, ở mặt trong, có một vệt màu khác. Nâu sẫm hơn màu gỗ, gần như đen. Nó không nằm trên mặt gỗ như mực. Nó thấm vô thớ gỗ, loang ra theo từng đường vân, như vết trà đổ lên một tấm thớt rồi để khô. Hình dạng của nó không đều. Đậm ở mép, nhạt dần vô trong. Như có một bàn tay ướt nắm vô mép gỗ đó, nắm chặt.
– Bà Tám. – Thoa nói. Cô nghe giọng mình lạ lắm. – Bà đưa con cái kia.
Bà Tám đưa chiếc mặt nạ giả. Thoa đặt nó cạnh chiếc thật, lật cả hai lại, so mép bên phải. Mép gỗ của chiếc giả lành lặn, tròn trịa, không mẻ một chút nào. Mặt trong sạch sẽ, màu gỗ đều.
Người thợ sơn ở miệt Thủ đã chép lại mọi thứ, từng nét mày, từng cái tên, cả cái tên của cô. Nếu năm đó cái mặt nạ thật đã mẻ, ông ta đã chép cả chỗ mẻ.
Nghĩa là nó mẻ sau khi bị đổi. Sau khi nó đã không còn nằm trong rương. Trong những ngày, những đêm nó nằm trong tay người lấy nó đi.
– Cái gì vậy con? – Bà Tám hỏi. Bà không dám nhìn mặt trong. Mười sáu năm nay bà không dám.
Thoa không trả lời. Cô ngồi im, hai tay đặt hai bên hai chiếc mặt nạ.
Thụ bước vô, đứng ở cửa. Anh nhìn mặt cô, rồi nhìn xuống chiếc mặt nạ thật. Anh ngồi xuống, cúi sát vệt nâu, không chạm vô. Anh nhìn rất lâu.
– Máu khô lâu năm thấm vô gỗ mộc thì ra màu rứa. – Anh nói, rất khẽ. – Tui không dám chắc. Phải đem đi thử mới chắc.
– Không cần thử. – Thoa nói.
Trưa đó, cả gánh ăn cơm dưới mái hiên nhà võ ca. Chị Hai Ngộ nấu canh chua cá bông lau với bông điên điển bà Mười hái ngoài mé sông. Chú Ba Trọng ngồi cuối chiếu. Chú ăn ít như mọi khi, gắp cá cho ông Sáu Kình, cho bà Tám. Ăn xong, chú đứng dậy rót trà, đi một vòng, đưa từng người.
Tới Thoa, chú đưa cái ly bằng tay phải.
Thoa cầm lấy cái ly. Cô không nhìn cái ly. Cô nhìn bàn tay đang buông cái ly ra. Lòng bàn tay mở, ngửa lên trong nắng trưa. Đường sẹo trắng bệch chạy ngang từ gốc ngón trỏ xuống tận cườm tay. Đường sẹo dài, không thẳng, hơi răng cưa ở giữa, như vết rách chớ không phải vết cắt.
Cô nhớ cái đêm đầu tiên về Rạch Gáo, chú xách giùm cô cái ba lô. Cô hỏi tay chú sao vậy. Chú nhìn xuống bàn tay mình như mới thấy lần đầu, rồi nắm lại. "Hồi đó chẻ tre làm giàn, dao trượt."
Dao trượt thì vết cắt thẳng.
– Con uống đi. – Chú Ba nói. – Nguội bây giờ.
Rồi chú đi qua người kế tiếp.
Chiều, Thoa đi tìm bà Tám. Bà đang ngồi trong buồng hoá trang, khâu lại hột cườm trên cái áo giáp của Đờn. Thoa ngồi xuống bên cạnh, cầm lấy cuộn chỉ cho bà.
– Bà Tám. Chú Ba bị đứt tay hồi nào bà?
Bà Tám ngưng kim. Bà nhíu mày, nhớ.
– Mùa Canh Dần đó. – Bà nói. – Đám ma con Lệ. Nó quấn băng cả tháng, tay phải, quấn dày cộm. Ai hỏi nó cũng nói chẻ tre dựng rạp, dao trượt. Bà còn la nó, kép chánh mà đi chẻ tre làm chi, để thằng Đờn làm.
– Dạ.
Bà Tám xỏ lại kim, khâu thêm một hột cườm. Rồi tay bà dừng lại lần nữa. Bà ngẩng lên, nhìn ra cửa buồng hoá trang, nơi cái gác chuông in bóng đen sẫm lên nền trời chiều.
– Mà lạ. – Bà nói, như mới nghĩ ra, sau mười sáu năm. – Rạp đám ma con Lệ dựng ở Rạch Gáo, tối mười bốn, lúc xe đưa nó về tới nhà. Mà sáng mười bốn, ở cái cù lao này, lúc người ta còn đang khiêng con Lệ vô chánh điện, bà đã thấy thằng Ba ngồi một mình sau xe khách, tay phải quấn cái khăn rằn, máu thấm đỏ.
— Hết chương 26 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe