Chương 13: Lời ông ngoại
Cái hộp số của xe tải rên lên một tiếng như trâu bị cắt tiết, rồi kẹt cứng ở số hai.
Đờn đánh lái tấp vô lề, tắt máy, gục đầu lên vô lăng. Đó là sáng hai mươi sáu tháng Giêng, gánh vừa rời Tân Lộc chưa được ba chục cây số.
– Phải về Rạch Gáo thôi ông. – Anh nói. – Chạy số hai lết về được. Ở nhà có tiệm quen, sửa ba ngày. Từ nhà lên đình Phước Lý có hai chục cây số, mùng Một mới phải tới.
Ông Năm gật đầu. Rồi ông nói một câu khiến cả Đờn và Thoa đều ngạc nhiên:
– Ông đi xe tải. Cho con Thoa đi theo.
Ông không nói tại sao. Nhưng khi leo lên cabin, ông ngồi xoay người lại, lưng tựa cửa, mắt nhìn qua ô kính nhỏ phía sau cabin, nơi hai cái rương được cột chặt vào thành thùng xe. Trong cái rương sơn đen bây giờ có hai chiếc mặt nạ, mỗi chiếc gói trong một lớp vải điều. Chìa khoá ông đeo trên cổ, bằng một sợi dây dù.
Xe tải lết đi với tốc độ ba chục cây số giờ. Đờn lái, Thoa ngồi giữa, ông Năm ngồi sát cửa. Xe khách của Sển chạy trước, khuất từ lâu. Đường lộ chạy giữa những rẫy điều, những lô cao su, những ruộng mì xanh mướt. Trưa nắng gắt, cabin nóng như lò, gió lùa qua cửa sổ mở toang mang theo mùi đất đỏ, mùi lá điều khô.
Ông Năm không nói gì suốt mấy tiếng đồng hồ. Tới chiều, khi xe đã ra khỏi vùng đất đỏ, đi dọc một con kênh nước đục ngầu lục bình trôi lềnh bềnh, ông mới mở miệng. Ông nói không quay đầu, mắt vẫn nhìn qua ô kính sau, như đang kể chuyện với hai cái rương.
– Năm Đinh Dậu, ông mười tuổi.
Thoa ngồi im. Đờn giảm ga một chút.
– Ông theo gánh từ hồi biết đi. Ông cố con đó, ổng là bầu, ổng nghiêm lắm. Đứa nào trong gánh làm sai, ổng không la, ổng nhìn. Ổng nhìn một cái là nó muốn độn thổ. Mà ông thì ổng không nhìn. Ổng thương ông lắm. Ổng chỉ không biết cách thương.
Ông dừng lại, lấy tay chùi mồ hôi trên trán.
– Má ông thì khác. Má ông cười hoài. Đi đâu cũng dắt ông theo. Cho ông ôm cái hộp ấn, cái hộp bọc vải đỏ đó, nói "Con giữ ấn cho má, đừng để ai lấy". Ông ôm nó suốt mùa. Đi ngủ cũng ôm.
Bên ngoài cửa sổ, một bầy vịt chạy đồng lạch bạch dưới kênh, người chăn vịt cầm cây sào dài có buộc túm giẻ đỏ ở đầu.
– Mùa đó má ông mệt. Ông nhớ vậy. Đêm nào hát xong má ông cũng ngồi thở lâu lắm mới thay đồ. Ông cố con biểu nghỉ một đêm, má ông không chịu. Má ông nói đình người ta trả tiền rồi. Mà có một chuyện ông không hiểu hồi đó. Má ông hay đi một mình. Rạng sáng, khuya khoắt, má ông đi ra bãi, ra gốc cây, ngồi đó hát nho nhỏ. Ông hỏi má hát gì. Má ông nói "Má tập lớp chót. Đêm thứ bảy má hát lần đầu. Con ngồi hàng đầu nghe má nghen".
Đờn lái xe chậm lại thêm nữa. Một chiếc xe máy chở mấy bao lúa vượt qua, bóp còi inh ỏi.
– Đêm thứ bảy ở Mù U, trước giờ hát, má ông xoa đầu ông. Má ông nói "Con ngồi đó, má hát lớp chót cho con nghe". Ông ngồi hàng đầu, ngay dưới chân sân khấu. Ông ngồi trên một cái chiếu, ôm hai đầu gối, ngửa cổ lên. Ông nhớ cái sân khấu cao lắm. Ông nhớ mấy cây đèn măng-xông kêu xèo xèo, có con thiêu thân bay vô. Ông nhớ mùi biển, mùi bùn rừng đước. Ông nhớ hết.
– Tới lớp áp chót, lớp cô đứng ở cổng đình, má ông hát câu ra. Rồi má ông bước tới cái ghế gỗ giữa sân khấu. Theo tuồng là cô ngồi xuống nghỉ một chút, rồi đứng dậy hát lớp chót. Má ông ngồi xuống. Má ông quay xuống nhìn ông. Ông thấy hai cái lỗ mắt mặt nạ ngó xuống ông. Ông còn giơ tay lên vẫy.
Ông Năm im lặng một lúc lâu. Xe tải chạy qua một cây cầu sắt nhỏ, ván cầu kêu lộc cộc.
– Rồi trống chiến cứ đánh. Đánh hoài. Ông cố con đánh trống chiến đêm đó. Ổng đánh, ổng chờ má ông đứng dậy. Ổng đánh thêm một hồi. Rồi thêm một hồi nữa. Bà con dưới sân bắt đầu xì xào. Má ông vẫn ngồi đó, ngó xuống ông. Rồi cái đầu má ông từ từ nghiêng qua một bên. Cái mặt nạ tuột ra, rớt xuống ván. Cốp.
Thoa nghe thấy chính mình nín thở.
– Ông thấy mặt má ông. Mắt má ông còn mở. Má ông vẫn ngó xuống chỗ ông ngồi.
Đờn đánh lái tấp xe vô lề. Anh tắt máy. Anh ngồi đó, hai tay nắm chặt vô lăng, không nói gì.
– Ông thầy thuốc trong làng nói má ông đứng tim. – Ông Năm tiếp, giọng vẫn đều đều, như kể một chuyện của người khác. – Ông cố con ôm má ông khóc cả đêm. Sáng ra, ổng lượm cái mặt nạ lên. Nó nứt một đường dưới mắt trái. Ổng ngồi cả ngày trám vết nứt đó, thếp vàng lên. Ông hỏi ổng sao không vứt đi. Ổng nói, "Để cho nó khóc thay má mầy. Mầy là con trai, mầy không được khóc". Từ đó ông không khóc. Đám ma má ông, ông không khóc. Đám ma ông cố con, ông không khóc. Đám ma má con…
Ông dừng lại. Ông không nói hết câu.
– Lớp chót, ông cố con không bao giờ nói tới nữa. Ổng mất năm chín lăm. Ổng mang nó theo xuống đất.
Ông quay lại, nhìn Thoa lần đầu tiên từ lúc bắt đầu kể.
– Hôm qua là lần đầu ông khóc từ năm mười tuổi. – Ông nói. – Ông khóc vì ông rờ được cái giọt lệ thiệt. Ông nhớ cái cảm giác đó. Hồi đó ông rờ nó hoài, lúc ông cố con trám xong, còn ướt sơn, ông lén rờ, bị đánh đòn. Mười sáu năm nay ông lạy cái đồ giả mà ông không biết. Ông không rờ nó. Ông sợ rờ nó.
Ông quay lại nhìn qua ô kính sau, nhìn hai cái rương.
– Thằng nào đổi, ông sẽ biết. – Ông nói nhỏ. – Ông chưa biết, nhưng ông sẽ biết.
Đờn nổ máy. Xe tải lại lết đi trên con đường dọc kênh, bóng chiều xuống dần.
Tới Rạch Gáo thì trời đã tối mịt.
Mấy ngày ở nhà, gánh nghỉ ngơi, giặt giũ, vá phông, sửa xe. Đờn đem xe tải ra tiệm. Sển sửa lại cái máy phát điện kêu lụp bụp từ hồi ở Lạch Bà. Ông Sáu Kình ngồi dạy Ngò mấy lối hát nam. Chị Hai Ngộ đi chợ Rạch Gáo mua cá về kho, nấu một nồi canh chua cá lóc với bông so đũa. Ông Năm nằm trong buồng gần như suốt ngày, ra ăn cơm rồi lại vô.
Thụ ngồi trên bậc thềm, nghe lại băng, ghi chép.
Chiều hai mươi bảy, Thoa ngồi xuống bên cạnh anh. Hai người ngồi nhìn con rạch trước nhà. Nước lớn, lục bình trôi ngược vô, bông tím lấm tấm.
– Anh Thụ.
– Ừ.
Cô ngập ngừng. Rồi cô kể. Cái điều cô chưa từng kể cho ai, mười sáu năm nay. Kể cho dì Bảy cũng không, kể cho bạn bè cũng không, kể cho ông bác sĩ tâm lý mà trường sư phạm bắt cô đi gặp hồi năm nhứt cũng không.
Cái đêm cuối cùng ở Tân Thạnh, cô ngủ trong cabin xe tải. Mưa lâm râm trên mái tôn của thùng xe. Nửa khuya cô thức giấc, không biết vì sao. Cô nằm nghe mưa. Rồi cô nghe một tiếng chuông.
Một tiếng thôi. Boong. Trầm, ngân dài, rung lên tới tận lớp kính cabin. Rồi tắt. Không có tiếng thứ hai.
Cô nằm chờ tiếng thứ hai. Nó không tới. Chỉ có tiếng mưa. Rồi cô ngủ lại lúc nào không hay.
Sáng ra người ta nói má té từ gác chuông.
– Chuông đình kêu một tiếng. – Thụ nói rất khẽ. – Lúc mấy giờ?
– Em không biết. Em không có đồng hồ. Chắc khuya lắm. Lúc đó trong xe tối thui, ngoài kia cũng tối thui.
– Cô có kể với ai chưa?
– Chưa. – Thoa nói. – Em sợ. Em mười tuổi, em nghĩ cái tiếng chuông đó là cô Ngọc Nữ gọi má. Em nghĩ nếu em kể ra, cô sẽ gọi em.
Thụ không nói gì. Anh ngồi yên bên cạnh cô, nhìn lục bình trôi. Một lúc sau anh nói:
– Chuông ở trên gác chuông. Người té từ trên gác chuông.
Thoa không trả lời. Cô cũng đã nghĩ vậy, nhiều lần. Rồi cô lại thôi không nghĩ nữa.
Sáng hai mươi tám, Thoa ra thăm mộ má.
Nghĩa địa của gánh Phước Xuân nằm sau xóm, trên một gò đất cao giữa ruộng, có hàng còng che bóng. Bà Bảy Ngọc nằm đó, ông cố Tảo nằm đó, cô Ba Lài nằm đó. Má cô nằm ở hàng cuối, ngôi mộ xi măng nhỏ, tấm bia ghi tên Đặng Thị Lệ, nghệ danh Út Lệ, mất ngày mười bốn tháng Hai năm Canh Dần.
Trên mộ má có một bó chân nhang còn mới, và một cái đĩa nhỏ đựng ba trái quýt.
Thoa đứng nhìn đĩa quýt. Mộ ông cố, mộ bà cố, mộ cô Ba Lài không có quýt, chân nhang thì đã cũ từ Tết. Chỉ có mộ má.
Cô hỏi bà Tám. Bà Tám nói từ hồi gánh về tới giờ bà chưa ra nghĩa địa. Cô hỏi chị Hai Ngộ. Chị Hai Ngộ lắc đầu. Cô không hỏi ai nữa.
Tối hai mươi tám, bà Tám Liên lục trong cái rương mão áo ra một cuốn album ảnh bìa nhựa đã ố vàng, quăn góc. Bà nói bà định đưa cho Thụ coi để ghi chép tư liệu, nhưng đưa cho Thoa coi trước.
– Ảnh gánh mình đó con. Từ hồi bà mới vô gánh. Có hình má con hồi nhỏ.
Thoa ngồi dưới bóng đèn tuýp ở gian giữa, lật từng trang. Những tấm ảnh đen trắng, rồi ảnh màu bạc phếch, rồi ảnh in từ máy ảnh số, màu sắc rực rỡ hơn. Bà Bảy Ngọc thì không có. Ông Năm hồi trẻ, đẹp trai, mặc áo kép võ. Ông Sáu Kình hồi trẻ, cười toe toét, khoác vai một cô đào trẻ đẹp, nét mặt sáng như trăng rằm. Bà Tám chú thích bằng bút bi dưới tấm ảnh: "Sáu Kình, Chín Lựu, Mỹ Lương 87".
Má cô hồi nhỏ, ngồi trên rương đồ. Má cô hồi mười lăm, mặc áo đào lần đầu. Má cô ôm cô hồi mới sinh.
Những trang cuối là mùa Canh Dần.
Có một tấm ảnh màu, in khổ nhỏ, chụp ở một bến sông rộng, nước đục màu phù sa, xa xa là mấy chiếc ghe. Má cô mặc áo bà ba lụa tím hoa cà, đứng tựa vô vai một người đàn ông. Má cười, nụ cười rạng rỡ mà Thoa không nhớ là đã từng thấy trên mặt má. Người đàn ông quay mặt nhìn má, không nhìn ống kính.
Chú Ba Trọng. Trẻ hơn bây giờ mười sáu tuổi, tóc còn đen.
Tấm ảnh nằm hơi lệch trong túi nhựa. Thoa rút nó ra. Phía sau ảnh có một dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh, nét chữ có cái móc hơi dài ở cuối.
"Bến Tân Thạnh. Xong đêm thứ bảy, mình đi."
— Hết chương 13 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe