Chương 14: Người đàn bà bán chè
– Chị Thoa, chị coi cái lỗ trên chóp nón nè.
Ngò dí cái điện thoại sát vào mặt Thoa. Trên màn hình là một khung hình đứng yên, phóng to tới mức vỡ hạt, nhoè nhoẹt. Một cái nón lá dưới ánh đèn đường vàng vọt. Ở ngay chóp nón, chỗ mấy vòng nan tre chụm lại, có một cái lỗ nhỏ, tròn, đen.
– Đây là ở đầu xóm mình, đêm gánh lên đường. – Ngò nói, rồi vuốt ngón tay. – Còn đây là ở Lạch Bà.
Khung hình thứ hai tối hơn, mờ hơn, chụp từ phía sân khấu ra cuối sân đình. Cát bay lấm tấm trước ống kính. Dưới hàng phi lao xơ xác, một bóng người đội nón lá. Ngò phóng to lên. Nhoè quá, gần như chỉ còn những mảng màu. Nhưng ở chóp nón, vẫn thấy được một chấm đen.
– Còn đây là ở Tân Lộc. Đêm ông Bửu gõ chầu.
Khung hình thứ ba. Dưới gốc cây sao, sau đám đông đang đứng dậy la hét. Bóng người đội nón lá, đứng yên. Bên cạnh chân, khuất trong bóng tối, có hai đầu quang gánh. Một đầu là cái nồi lớn bọc khăn.
Sáng hai mươi chín tháng Giêng, nhà Tổ Rạch Gáo vắng hoe. Ông Năm đi tiệm sửa xe với Đờn. Chú Ba Trọng đi lên đình Phước Lý bàn chuyện với ban quý tế. Thoa, Ngò và Thụ ngồi trên bộ ván gian giữa. Từ chiều hôm qua, sau khi nghe Thoa kể về bà bán chè ở Vĩnh Phước, Ngò đã ngồi lục lại hết mấy trăm clip quay từ đầu mùa, coi từng khung hình một, thức gần tới sáng.
– Em quay đủ thứ, mà em đâu có để ý. – Ngò nói. – Tới khi em đi tìm thì bả ở đâu cũng có.
– Ở Vĩnh Phước thì chị gặp bả ở cổng chợ, nói chuyện với bả. – Thoa nói. – Cái nón cũng thủng chóp. Chị nhớ.
Thụ cầm cái điện thoại của Ngò, coi lại từng khung hình, rất lâu.
– Đầu xóm Rạch Gáo. Vĩnh Phước dưới chân đèo. Lạch Bà. Tân Lộc. – Anh đếm. – Tính đường xe chạy, hơn một ngàn cây số. Gánh mình có xe riêng. Bà cụ ni đi bằng chi?
– Xe khách. – Thoa nói. – Gánh đi đâu, đình nào, ngày nào, đình nào cũng dán thông báo ngoài cổng. Ngò còn trả lời tin nhắn người ta hỏi.
Ngò đỏ mặt, cúi xuống.
– Một bà già bảy tám chục tuổi, gánh nồi chè đi xe khách theo gánh hát một ngàn cây số. – Thụ nói. – Để làm chi?
Không ai trả lời được.
Bà Tám Liên từ dưới bếp lên, tay còn cầm rổ rau. Bà đứng coi mấy khung hình trên điện thoại, rồi lắc đầu.
– Bà nói rồi, con Lựu mà còn sống thì giờ nó mới sáu mươi bốn. Bà già này lưng còng, mặt nhăn, phải bảy tám chục.
– Người ta khổ thì người ta già nhanh, bà. – Thoa nói.
Bà Tám im lặng. Bà nhìn chằm chằm vào cái nón lá thủng chóp trên màn hình một lúc lâu, rồi đặt rổ rau xuống, đi ra sau hè.
Ông Sáu Kình ngồi ở góc nhà từ nãy, nhai trầu, không nói một tiếng. Khi Ngò định tắt điện thoại, ông đưa tay ra.
– Đưa ông coi.
Ông cầm cái điện thoại bằng hai tay, đưa ra xa, nheo mắt. Ông coi khung hình ở Tân Lộc. Ông coi lâu tới mức màn hình tự tắt, Ngò phải bấm lại cho ông. Rồi ông trả điện thoại, đứng dậy, chống tay vô vách, đi ra ngoài sân. Thoa thấy ông đứng dưới gốc gáo, móc trong túi áo ra một vật gì nhỏ, nắm trong lòng bàn tay, đứng đó nhìn con rạch.
Chiều hôm đó, chú Ba Trọng về. Thoa đợi chú ở bến nước đầu nhà.
Bến nước Rạch Gáo là mấy bậc thang bằng gỗ dầu, đóng chéo xuống mép nước, có một cây cầu tre nhỏ chìa ra cho người ta giặt giũ, rửa chén. Nước đang ròng. Mấy con cá thòi lòi nhảy lóc chóc trên bãi bùn. Thoa ngồi trên bậc thang trên cùng, tấm ảnh trong tay.
Chú Ba Trọng bước xuống, thấy cô, rồi thấy tấm ảnh. Chú dừng lại.
– Con ngồi đi chú. – Thoa nói.
Chú ngồi xuống bậc thang bên cạnh. Thoa đưa tấm ảnh cho chú. Chú cầm lấy, nhìn mặt trước, rồi lật ra mặt sau. Chú đọc dòng chữ. Môi chú mấp máy, đọc không ra tiếng.
– Hai năm. – Chú nói, giọng khàn đặc. – Tụi chú thương nhau hai năm. Từ năm hai ngàn lẻ tám.
– Ông Năm biết không?
– Biết. Ổng không ưng. Ổng nói chú phải ở lại gánh. Chú là kép chánh, chú đi thì gánh chết. Má con cũng là đào chánh. Hai đứa đi một lần là gánh mất hai cái cột. – Chú cười buồn. – Mà ổng nói đúng. Má con đi rồi, gánh còn chú gồng. Chú mà đi nữa, gánh dẹp từ năm đó rồi.
– "Xong đêm thứ bảy, mình đi". Đi đâu chú?
– Lên Sài Gòn. Má con, con, với chú. Má con tính thuê một căn nhà nhỏ, đi dạy hát cho tụi nhỏ trong mấy nhà văn hoá. Chú thì đi hát đám, hát quán, cái gì cũng được. Má con nói muốn cho con đi học đàng hoàng, đừng lớn lên trong thùng xe tải như má. – Chú ngừng lại. – Đêm thứ bảy ở Tân Thạnh, má con nói hát xong, một giờ khuya, đợi chú ở bến đình. Để nói với ông Năm. Hai đứa cùng nói.
Thoa nhớ tới câu má nói trong lúc vuốt tóc cô trước gương. "Đêm nay xong là má con mình về Sài Gòn." Cô đã nhớ câu đó suốt mười sáu năm, nhớ như một lời hứa bị phản bội. Bây giờ cô mới hiểu nó là gì.
– Rồi sao chú?
Chú Ba Trọng cúi đầu. Hai bàn tay chú nắm chặt lấy nhau trên đầu gối, chặt tới mức các đốt ngón tay trắng bệch. Vết sẹo trên lòng bàn tay phải căng ra.
– Hát xong, anh em rủ uống mấy ly. Chú uống. Chú sợ, con à. Chú sợ đối mặt ông Năm. Chú uống cho có gan. Rồi chú say. Chú leo lên xe khách nằm, tính chợp mắt chút xíu. Chú ngủ quên. – Giọng chú vỡ ra. – Chú tới bến lúc gần ba giờ. Mưa. Không thấy má con. Chú tưởng má con giận chú, má con đi ngủ. Chú về xe khách nằm lại. Sáng ra…
Chú không nói hết. Chú đưa hai tay lên che mặt.
Thoa ngồi nhìn chú. Mười sáu năm nay, cô tưởng tượng cái đêm đó bằng hàng trăm cách khác nhau. Không có cách nào có chú Ba Trọng ngủ say trên xe khách trong khi má cô đứng chờ ở bến.
– Cái áo bà ba tím. – Cô nói. – Ai giữ nó, chú?
Chú Ba bỏ tay xuống. Chú nhìn ra con rạch, nhìn mấy con cá thòi lòi.
– Chú không biết. – Chú nói.
Cô biết chú đang nói dối. Cô không biết chú nói dối ở chỗ nào. Có thể ở cái áo. Có thể ở cái giờ. Có thể ở cả hai. Nhưng giọng chú lúc nói câu đó, cái giọng nhỏ nhẹ, lễ phép, người có học hay người quen hát, đã khác đi một chút, như sợi dây đờn bị lên dây quá căng.
Cô đứng dậy, cầm lại tấm ảnh, đi lên nhà, để chú ngồi một mình ở bến nước.
Mùng Một tháng Hai, gánh Phước Xuân tới đình Phước Lý.
Đình nằm ngay trên bờ sông Vàm Cỏ Tây, cách Rạch Gáo chỉ chừng hai chục cây số đường đal. Một ngôi đình cổ, mái ngói âm dương lợp hai tầng, cột gỗ lim to cỡ một người ôm, sân trước rộng thênh thang lát gạch tàu. Phía trước đình là một cây gòn cổ thụ, gốc phủ rêu xanh. Phía sau đình là bến sông, nước chảy xiết, lục bình trôi từng đám lớn, xa xa bên kia sông là bạt ngàn ruộng lúa đang thì con gái.
Gánh dựng sân khấu cả buổi chiều. Đờn treo đèn, Sển nối điện, thằng Tồ căng phông. Xe tải sửa xong, Đờn chạy thử, nói êm ru.
Chiều đó, Ngò kéo Thoa ra sau chánh điện, chỗ không ai thấy.
– Chị Thoa, chị dạy em câu ra đi chị. – Nó nói nhỏ. – Mấy lớp kia em hát được rồi, mà câu ra em hát không ra. Em… em sợ lỡ chị có chuyện gì thì không ai hát.
Thoa nhìn con nhỏ. Mắt nó đỏ hoe, hai tay vặn vẹo vạt áo.
– Không có chuyện gì đâu em.
– Thì chị cứ dạy em đi.
Thoa dạy. Hai chị em đứng sau chánh điện, quay mặt ra sông, hát đi hát lại câu ra cho tới khi trời sẩm tối. Lần nào Ngò hát chữ "về" cũng bể giọng ở cuối. Nó không khóc. Nó chỉ hít một hơi, rồi hát lại.
Đêm đó trời không trăng. Mùng Một, trăng chưa mọc. Bầu trời trên sông đen kịt, chỉ có những vì sao nhỏ lấm tấm, và ánh đèn lờ mờ của mấy chiếc ghe đậu xa xa bên kia bờ.
Gánh chưa hát. Đêm hát đầu tiên là đêm mai. Cả gánh ăn cơm tối xong, trải chiếu nằm ngủ sớm trên sân khấu và trong nhà khách đình.
Thoa không ngủ được. Gần mười một giờ, cô ra ngồi trên bậc thềm nhà võ ca, nhìn ra sân đình tối om. Từ chỗ cô ngồi, có thể thấy bến sông phía sau đình, những bậc tam cấp bằng đá ong dẫn xuống mép nước.
Có một người ngồi ở bậc đá trên cùng. Cái dáng gầy, khòm khòm, đội cái nón vải bộ đội cũ. Ông Sáu Kình. Ông ngồi đó một mình, quay mặt ra sông, trên tay cầm một cây dùi trống chiến. Ông vẫn hay cầm dùi như vậy, đi đâu cũng mang theo một cây, như cầm một cái điếu cày.
Thoa định đứng dậy đi ra ngồi với ông. Rồi cô nghe thấy.
Tiếng hát.
Từ ngoài sông vọng vào. Từ giữa dòng nước đen kịt, nơi không có một ánh đèn nào, không có một bóng ghe nào. Một giọng đàn bà. Khàn, trầm, như giọng người đã lâu không hát. Nhưng chữ rõ ràng, chậm rãi, đi trên mặt nước như con thuyền giấy.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Chữ "về" vút lên cao, thật cao, như một người đang bước đi bỗng quay đầu lại. Rồi buông rơi xuống, nhẹ nhàng, như chiếc lá rớt xuống mặt sông.
Thoa đứng bật dậy. Toàn thân cô nổi da gà. Cô biết cái luyến đó. Cô đã nghe nó, qua cặp tai nghe của Thụ, chìm dưới giọng cô, trễ nửa nhịp, ở đình Vĩnh Phước.
Sau lưng cô, trong nhà võ ca, có tiếng người choàng dậy. Tiếng bà Tám kêu "Trời đất ơi". Tiếng Ngò rú lên. Tiếng chân Đờn nhảy từ sân khấu xuống.
Giọng hát ngoài sông im bặt. Chỉ còn tiếng nước chảy và tiếng ếch nhái.
Ông Sáu Kình vẫn ngồi ở bậc đá trên cùng. Ông không quay lại. Cây dùi trống trong tay ông tuột ra, rơi xuống bậc đá, lăn lông lốc qua từng bậc, rồi rớt tõm xuống nước.
Ông không cúi xuống nhặt. Ông ngồi đó, nhìn ra sông đen, và nói một tiếng. Không lớn, nhưng trong cái im lặng của đêm không trăng, Thoa nghe rõ như ông đang nói ngay bên tai cô.
– Lựu.
— Hết chương 14 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe