AI Truyện
Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ

🕯️ Truyện ma kinh dị

Xin keo trước bàn thờ Tổ

Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Xin keo trước bàn thờ Tổ

Hai đồng xu rơi xuống đĩa sứ, xoay tít, rồi nằm yên. Cả hai cùng sấp.

Ông Năm Khương quỳ trước bàn thờ Tổ nghiệp, hai tay chắp trước ngực, nhìn hai đồng xu như nhìn hai con mắt đang trừng lại mình. Sau lưng ông, cả gánh Phước Xuân quỳ thành ba hàng trên mấy chiếc chiếu mới trải. Hàng đầu là chú Ba Trọng, ông Sáu Kình, bà Tám Liên. Hàng thứ hai là Thoa, Đờn, chú Út Bền, chị Hai Ngộ. Hàng cuối là Ngò, thằng Tồ, Sển.

Sáng mười hai tháng Giêng, nhà Tổ thơm mùi nhang trầm và mùi xôi gấc. Trên bàn thờ bày một con gà luộc vàng ươm ngậm bông hồng đỏ, đĩa xôi gấc, nải chuối sứ, mâm trái cây, ba chén chè trôi nước, hũ rượu nếp. Hai ngọn đèn dầu được lau kính sáng choang. Cặp liễn đỏ hai bên đã phai chữ, nhưng ai trong gánh cũng thuộc.

Lễ cúng Tổ khai mùa. Không gánh hát nào lên đường mà không cúng Tổ, và không ông bầu nào dám khởi mùa mà chưa xin keo.

Xin keo thì phải một đồng sấp một đồng ngửa. Hai đồng cùng ngửa là Tổ cười, chưa trả lời. Hai đồng cùng sấp là Tổ không bằng lòng.

Ông Năm lượm hai đồng xu lên, áp vào lòng bàn tay, khấn lâm râm. Thoa ngồi ngay sau lưng ông nên nghe rõ được vài chữ.

– …cháu ngoại con là Lư Kiều Thoa, xin đội vai Ngọc Nữ mùa này…

Ông tung lên lần thứ hai. Hai đồng xu va vào nhau kêu "keng" rồi rơi xuống. Cả hai cùng ngửa.

Sau lưng Thoa, Ngò nín thở. Thằng Tồ thì thầm "Tổ cười kìa". Chị Hai Ngộ đập nhẹ vô vai nó.

Ông Năm im lặng lâu hơn. Ông cúi lạy ba lạy, trán chạm xuống chiếu. Lúc ông ngồi dậy, Thoa thấy hai bên thái dương ông mồ hôi rịn ra, dù buổi sáng còn mát.

Lần thứ ba. Một đồng sấp. Một đồng ngửa.

Cả gánh thở ra một hơi dài. Chị Hai Ngộ chắp tay vái lia lịa. Ông Sáu Kình gật gù. Chú Ba Trọng đứng lên trước, đỡ ông Năm dậy.

Nhưng ông Năm không vui. Ông đứng nhìn hai đồng xu trong đĩa thêm một lúc, rồi quay lại nhìn Thoa. Trong ánh đèn dầu, cô không đọc được ánh mắt ông. Cô chỉ nghĩ: hai lần đầu, ông đang cầu cho nó ra sấp.

Lễ xong thì có tiếng xe hơi đỗ ngoài ngõ.

Một chiếc xe màu bạc, kính đen, đậu ngay gốc gáo. Một người đàn ông chừng sáu mươi lăm bước xuống, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây, tóc chải ngược, đeo cái kính gọng mảnh. Theo sau là một cậu thanh niên ôm giỏ quà bọc giấy kiếng.

– Anh Năm. – Người đàn ông chắp tay xá trước cổng, giọng Chợ Lớn mềm như lụa. – Tôi tới trễ, xin lỗi anh. Tôi xin thắp cây nhang cho Tổ, chúc gánh mình đi một mùa suôn sẻ.

Ông Năm đứng ở thềm, không bước xuống, không mời vô. Nhưng ông cũng không đuổi.

– Ông Bửu. – Ông nói. – Ông bận rộn, tới chi.

Quan Bửu bước vô như không nghe thấy cái lạnh trong giọng ông Năm. Ông ta thắp nhang, vái Tổ đúng phép, đặt một phong bì đỏ lên bàn thờ. Rồi ông ta đi một vòng quanh gian giữa, chậm rãi, dừng lại trước cái rương sơn đỏ, đưa ngón tay vuốt nhẹ lên lớp sơn đã rạn, như vuốt lưng một con mèo.

– Đồ của ông cố anh đó, ai cũng biết. – Ông ta nói. – Mão ông Quan Công trong rương này, thợ Huế làm từ năm năm mươi hai. Bây giờ tìm không ra người làm được vậy nữa.

– Ông khỏi nhắc. – Ông Năm nói. – Rằm tháng Ba tôi trả.

– Tôi đâu có nhắc. Tôi tới cúng Tổ mà anh Năm. – Quan Bửu cười. Ông ta nhìn qua cái rương sơn đen nhỏ hơn. – Nghe nói năm nay anh cho hát lại Ngọc Nữ?

– Đình người ta đòi.

– Mặt nạ đời đầu vẫn còn chớ anh? Cái mặt nạ thợ Huế làm cho bà cụ nhà anh đó?

– Gánh tôi có một cái thôi. Không có đời đầu đời sau gì hết.

– Vậy thì tốt. – Quan Bửu gật đầu, như vừa nghe được một câu trả lời mình ưng ý. Ông ta quay qua, ánh mắt dừng lại ở Thoa. – Còn đây chắc là cháu ngoại anh. Tôi nghe tiếng rồi. Năm hai ngàn lẻ chín tôi có coi má cô hát ở Mỹ Tho. Đẹp lắm. Hát lớp ra cổng đình mà cả rạp nín thở.

Thoa chỉ gật đầu chào.

Lúc Quan Bửu ra về, Sển ở đâu chạy tới đỡ giùm cậu thanh niên cái giỏ quà để vô hiên, rồi chạy ra mở cửa xe cho ông ta, cúi đầu lễ phép như tài xế đưa khách. Quan Bửu gật đầu với anh ta một cái, không nhìn mặt.

Xe đi rồi, chú Ba Trọng đứng ở cổng một lúc lâu, nhìn theo đám bụi đỏ trên đường đal.

Buổi trưa, trong lúc cả gánh khiêng phông màn ra sân phủi bụi, Thoa ra sau hè gọi điện cho dì Bảy Nhàn. Dì nhấc máy liền, như đang cầm điện thoại chờ.

– Con đang ở đâu? Con ở đâu, nói dì nghe!

– Con ở Rạch Gáo, dì.

Đầu dây im lặng. Rồi dì Bảy nói, giọng nghẹn đi:

– Con về đó làm gì. Má con chết vì cái mặt nạ đó. Con biết mà.

– Má con té, dì. Dì nói vậy mà.

– Dì nói vậy cho con ngủ được. – Dì Bảy thở dài. – Con đội rồi hả?

– Ông Năm xin keo được rồi.

– Ông ngoại con… – Dì định nói gì đó, rồi thôi. Một hồi lâu dì mới nói tiếp. – Thôi, con đi thì đi. Gánh nuôi con ăn học mười mấy năm, giờ gánh tới mùa chót, con theo cũng phải. Mỗi năm tháng Chạp, gánh gửi lên cho dì một cục tiền, nói là tiền hội của gánh để dành cho con. Dì để dành hết đóng học phí cho con đó. Con biết không?

Thoa không biết. Cô đứng giữa hàng chuối sau hè, nắng xuyên qua tàu lá rọi xuống chân cô từng vệt xanh.

– Ai gửi vậy dì? Ông Năm hả?

– Thì gánh gửi. Thằng Ba Trọng nó đem lên. Năm nào cũng nó. Mà con đừng có hỏi ông Năm, ổng tự ái.

Chiều xuống thì một người khách nữa tới, đi xe ôm từ bến xe vô, đeo một cái ba lô to gần bằng người.

Anh ta chừng ba mươi mấy, mang kính cận, áo sơ mi xanh xắn tay, quần kaki đầy túi. Anh đứng ngoài cổng chào cả sân bằng một giọng Huế nhỏ nhẹ:

– Dạ, cho em hỏi, đây có phải nhà Tổ gánh Phước Xuân không ạ? Em là Lê Bá Thụ, ở viện bên ngoài Huế, có gửi thư cho ông Năm trước Tết rồi.

Ông Năm nhớ ra. Viện văn hoá muốn ghi âm, ghi hình trọn mùa diễn cuối của một gánh hát bội lưu diễn, để lưu lại. Ông Năm đã ưng thuận từ tháng Chạp, rồi quên mất. Thụ không đòi gì: anh tự lo tiền xe, tự lo chỗ ngủ, chỉ xin được ngồi một góc dưới chân sân khấu với cái máy ghi âm và cái máy quay.

Đờn dẫn anh ta đi coi chỗ để đồ. Lúc đi ngang Thoa, Thụ dừng lại, nhìn cô một chút.

– Cô là người đội vai Ngọc Nữ năm ni, phải không?

– Sao anh biết?

– Răng mà không biết. – Thụ cười, gãi đầu. – Cả gánh nhìn cô như nhìn người sắp đi xa.

Tối hôm đó, gánh Phước Xuân lên đường.

Xe tải đậu sát thềm. Đờn và thằng Tồ khiêng từng cuộn phông, từng thùng đèn, cái máy phát điện nặng chịch, mấy cây thương, cây kích, cờ lệnh, cột tre. Bà Tám Liên đứng canh khi tụi nó khiêng hai cái rương lên. Bà lấy dây dù cột rương dính vào thành xe, cột đi cột lại ba lần, lấy tay giật thử, rồi mới chịu. Trước khi xuống, bà rút trong túi áo ra một nhánh lá bưởi đặt lên nắp rương sơn đen.

Xe khách hai mươi chín chỗ của gánh cũng đã nổ máy. Sển ngồi sau tay lái, mở đèn trong xe, chờ. Ông Năm ngồi băng ghế đầu, đôi dép tổ ong để ngay ngắn dưới chân. Chú Ba Trọng ngồi băng thứ hai, cầm cặp da đựng hợp đồng. Ông Sáu Kình ôm cái trống chiến trong lòng như ôm đứa cháu.

Thoa ngồi gần cuối. Thụ ngồi băng bên kia lối đi, đang lau ống kính máy quay. Ngò ngồi trước mặt cô, giơ điện thoại quay qua cửa sổ.

Xe lăn bánh lúc tám giờ. Ánh đèn pha quét qua hàng rào dâm bụt, qua gốc gáo, qua cột cờ tre. Nhà Tổ lùi lại trong bóng tối, chỉ còn hai đốm đèn dầu trên bàn thờ hắt qua khung cửa, nhỏ dần, rồi khuất.

Ra tới đầu xóm, chỗ con đường đal nhập vô lộ lớn, có một cây đèn đường đơn độc. Dưới ánh đèn vàng vọt đó, có một bà già đứng.

Bà đội nón lá, mặc áo bà ba màu nâu đất, bên chân là một đôi thúng có quang gánh. Bà đứng sát lề đường, không đón xe, không vẫy xe. Bà chỉ đứng nhìn chiếc xe khách của gánh chạy tới.

Khi xe chạy ngang qua, Thoa thấy rất rõ bà đưa một tay lên. Không phải vẫy. Bà chỉ giơ lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng về phía xe, giữ yên như vậy, như người ta chạm tay vào kính để chào ai đó ở bên kia.

– Chị Thoa! – Ngò quay phắt lại. – Chị thấy bà đó không? Em quay được nè!

Thoa ngoái nhìn qua kính sau. Cây đèn đường lùi xa. Dưới ánh đèn, bà già vẫn đứng nguyên đó, tay vẫn giơ lên, cái nón lá nghiêng nghiêng. Rồi khúc quanh nuốt mất tất cả.

– Bà bán chè khuya đó mà. – Chị Hai Ngộ nói vọng xuống từ băng trên. – Ở đây đêm nào chẳng có người gánh chè đi bán.

Không ai nói gì thêm. Xe chạy vô lộ lớn. Đèn trong xe tắt bớt. Có người bắt đầu ngáy.

Thoa ngả đầu vô cửa kính lạnh. Bên kia lối đi, Thụ bật đèn pin điện thoại, lục trong ba lô ra một cái bìa nhựa.

– Cô Thoa. – Anh nói nhỏ. – Tui có cái ni muốn đưa cô coi. Tui định để mai, mà thôi, đưa chừ.

Trong bìa nhựa là một tờ giấy photo đã ngả vàng. Bản chụp lại một trang báo cũ, chữ in kiểu xưa, có mấy chỗ mờ nhoè. Ở góc trang có một cái tin ngắn, đóng khung, tựa in đậm: Đào Bảy Ngọc gánh Phước Xuân từ trần trên sân khấu.

– Báo ra ở Sài Gòn tháng Ba năm năm mươi bảy. – Thụ nói. – Tui tìm thấy trong kho lưu trữ. Cái ảnh ni chụp trước đó chừng một tháng, ở đình đầu tiên của mùa.

Bên dưới cái tin có một tấm ảnh nhỏ, đen trắng, hạt to. Một người đàn bà mặc áo thụng trắng đứng giữa sân khấu, hai tay ôm một vật vuông vức trước ngực. Trên mặt bà là chiếc mặt nạ. Đôi mày lá liễu. Chấm son giữa trán. Đôi môi hé mở.

Dưới khoé mắt trái của chiếc mặt nạ, lớp sơn trắng trơn láng, chưa có giọt lệ nào. Đúng như lời bà Tám: hồi đó cô Ngọc Nữ chưa từng khóc.

– Cô coi chỗ ni. – Thụ đưa ngón tay chỉ vào góc phải tấm ảnh, sát mép. – Tui nhìn cả tháng rồi, mà vẫn không hiểu.

Thoa đưa tờ giấy sát vào ánh đèn.

Phía sau lưng bà Bảy Ngọc, chỗ tấm phông che cánh gà, có một bóng người mờ mờ, nhạt như khói. Bóng ấy đứng thẳng, hai tay buông xuôi, mặc áo trắng. Và trên mặt nó cũng là một chiếc mặt nạ. Cùng đôi mày lá liễu. Cùng chấm son. Cùng đôi môi hé mở. Nó không nhìn ra khán giả. Nó quay nghiêng, nhìn vào người đàn bà đang đứng hát giữa sân khấu.

– Máy ảnh hồi xưa hay bị chụp chồng hai lần lên một tấm phim. – Thụ nói, giọng anh nhỏ hẳn đi. – Tui biết rứa. Tui tự nói với mình rứa cả tháng nay.

Thoa không trả lời. Cô nhìn cái bóng nhạt sau cánh gà, nhìn mãi, cho tới khi xe quẹo gắt một khúc và ánh đèn pin trượt khỏi tờ giấy, để lại hai gương mặt gỗ chìm chung vào bóng tối.

— Hết chương 3 —

Mục lục Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ

  1. 1Tên trong lòng mặt nạ11 phút
  2. 2Giọt lệ vàng11 phút đọc
  3. 3Xin keo trước bàn thờ Tổ11 phút đọc
  4. 4Trống chầu lúc nửa đêm10 phút đọc
  5. 5Trăng đỏ đêm rằm10 phút đọc
  6. 6Chén chè gừng10 phút đọc
  7. 7Đôi hài đầy cát10 phút đọc
  8. 8Bàn tay trên gương10 phút đọc
  9. 9Người đánh trống chầu10 phút đọc
  10. 10Đất đỏ Tân Lộc10 phút đọc
  11. 11Hai gương mặt trên bàn thờ10 phút đọc
  12. 12Tiếng chầu chê10 phút đọc
  13. 13Lời ông ngoại10 phút đọc
  14. 14Người đàn bà bán chè10 phút đọc
  15. 15Cái khăn viền chỉ bạc10 phút đọc
  16. 16Đèn dầu đêm không trăng10 phút đọc
  17. 17Phòng trọ cạnh chợ Phước Lý10 phút đọc
  18. 18Bà Mười Gừng10 phút đọc
  19. 19Lời kể của người chết đuối12 phút đọc
  20. 20Thằng con không nhớ gì11 phút đọc
  21. 21Lọn tóc buộc chỉ đỏ11 phút đọc
  22. 22Cây thang tre10 phút đọc
  23. 23Cái bẫy trong xe tải11 phút đọc
  24. 24Giấy nợ11 phút đọc
  25. 25Cù lao Tân Thạnh11 phút đọc
  26. 26Mép gỗ bị mẻ10 phút đọc
  27. 27Một tiếng chuông10 phút đọc
  28. 28Lời Ba Trọng11 phút đọc
  29. 29Người thứ ba thấy11 phút đọc
  30. 30Giỗ má10 phút đọc
  31. 31Đường xuống rừng đước10 phút đọc
  32. 32Ghế bà Bảy10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại thay áo10 phút đọc
  34. 34Lớp chót11 phút đọc
  35. 35Hai giọng trong băng10 phút đọc
  36. 36Chén chè ở mép sân khấu10 phút đọc

Về truyện này

Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →