Chương 6: Chén chè gừng
Không ai dám đụng vào chén chè. Nó nằm ở mép sân khấu suốt buổi sáng, nắng lên dần, nước gừng trong chén cạn bớt, mấy viên trôi nước khô se mặt, ruồi bu, mà vẫn không ai dám đụng.
– Năm Mậu Thìn, con Chín Lựu đặt ra lệ đó. – Bà Tám Liên ngồi trên bậc thềm buồng hoá trang, hai tay ôm lấy đầu gối, kể cho Thoa nghe. – Nó nói cô Ngọc Nữ chết dưới sông, nước sông lạnh, hồn cô về đình là lạnh lắm. Đêm nào hát Ngọc Nữ xong, nó cũng nấu một nồi chè trôi nước, nấu gừng thiệt cay, múc một chén để ở mép sân khấu. Mời cô. Sáng ra nó đem đổ dưới gốc cây.
– Mấy người khác có làm không bà?
– Không. Chỉ mình nó. Má con hồi đó đâu có làm. Bà Bảy Ngọc, cô Ba Lài cũng đâu có làm. Lệ đó của riêng con Lựu, nó đi rồi thì hết.
– Vậy ai biết chuyện này?
Bà Tám đếm trên đầu ngón tay. Ông Năm. Ông Sáu Kình. Chú Ba Trọng, hồi đó mới hai chục tuổi, vô gánh được năm năm. Bà Tám. Mấy người cũ khác thì chết hết, hoặc bỏ nghề về quê từ đời nào.
– Bốn người. – Thoa nói. – Ở đây có đủ bốn người đó.
Bà Tám ngước lên nhìn cô, giật mình.
– Con nghĩ cái gì vậy con?
Thoa không trả lời. Cô nhìn ra phía bãi, chỗ ông Sáu Kình đang đứng một mình dưới hàng dương, lưng quay về phía đình. Từ lúc thấy chén chè, ông không nói một câu nào. Ông bỏ cả miếng trầu đang nhai, đi thẳng ra bãi, đứng đó cho tới giờ.
Thụ thì không đứng yên một chỗ. Anh đi dọc theo hàng dấu chân, ngồi xổm xuống, đặt cây thước dây bên cạnh từng dấu, chụp hình. Đờn đi theo anh, cầm giùm cái túi máy.
– Bàn chân ni nhỏ. – Thụ nói khi Thoa tới gần. – Chừng ba lăm, ba sáu. Đàn bà, người nhỏ. Gót lún sâu hơn mũi. Người đi chậm, đi bằng gót, như người lớn tuổi.
– Ma thì đâu có lún gót. – Đờn nói, rồi cười gượng, rồi không cười nữa.
– Cô coi chỗ ni. – Thụ dẫn Thoa ra tới đầu sân khấu, rồi chỉ sang phía bên trái, nơi có lối đi lát gạch chạy từ sân đình ra cổng làng. – Hàng dấu chân không đi ngược xuống biển. Nhưng ở đây, trên gạch, có mấy hột cát khô. Rớt rải rác, chạy ra phía cổng. Người ta đi lên bằng chân ướt, đặt chén chè, rồi đi ra bằng lối gạch. Chân khô dần, dấu mờ dần, tới chỗ ni là hết.
Thoa ngồi xuống nhìn. Đúng là có mấy hột cát, nhỏ như hột tấm, rải lác đác trên nền gạch đỏ. Nếu không có ai chỉ, cô sẽ không bao giờ thấy.
– Còn mấy cây đèn trong chánh điện? – Cô hỏi.
– Cửa hậu chánh điện bị mở. – Thụ nói. – Cái cửa quay ra biển. Ông Tư Lẫy nói ổng đóng kỹ trước giờ hát, cài then hẳn hoi. Sáng nay ra coi thì then tuột, cửa mở hé chừng một gang tay. Gió biển lúc chập tối đổi hướng, từ đất thổi ra biển. Cửa hậu mở thì gió lùa thẳng qua chánh điện.
– Mà nó tắt đúng lúc em bước ra.
– Rứa đó. – Thụ gật đầu, lau mồ hôi trên trán. – Cái chỗ "đúng lúc" thì tui chưa giải thích được.
Gần trưa, Thoa đi ra chợ làng.
Chợ Vĩnh Phước họp ngay trên bãi đất trống giữa làng, một dãy sạp lợp tôn và mấy chục cái thúng, cái mẹt bày la liệt dưới đất. Cá ngân, cá nục, mực lá, con ghẹ còn giãy, rổ rau muống biển, bó rau má. Tiếng người mua kẻ bán ồn ào, giọng biển chữ nào cũng dài ra, cao vút ở cuối câu.
Ở cổng chợ, ngay gốc cây phượng, có một bà già ngồi bên đôi quang gánh. Một đầu gánh là cái nồi nhôm lớn bọc khăn giữ nhiệt, đầu kia là cái thúng đựng chén, muỗng, hũ mè rang. Bà đội nón lá, cái nón cũ đã thủng một lỗ nhỏ ở chóp. Áo bà ba màu nâu đất.
Trên nắp nồi có một tấm bìa giấy cạc tông, viết bằng than: Chè trôi nước gừng.
Thoa đứng sững lại. Rồi cô bước tới.
– Bà ơi, bán con một chén.
Bà già không ngẩng lên. Bà mở nắp nồi. Hơi gừng cay xè bốc lên. Bà múc mấy viên trôi nước vô một cái chén sành nhỏ, men nâu, chan nước đường gừng màu hổ phách, rắc mè lên trên. Tay bà gầy, nổi gân, mu bàn tay trái có một vết sẹo nhăn nheo bóng nhẫy như vết bỏng cũ.
– Năm ngàn. – Bà nói.
Giọng bà khàn, đặc, như giọng người hút thuốc rê lâu năm. Thoa đưa tiền. Bà cầm tiền, bỏ vô túi áo, rồi lần đầu tiên bà ngẩng lên.
Dưới vành nón, gương mặt bà nhăn nheo như trái táo khô, da đen sạm, hai má hóp. Bà già hơn Thoa tưởng, phải bảy mươi lăm, tám mươi. Đôi mắt bà nhìn Thoa không chớp, lâu tới mức cô thấy khó chịu.
– Con hát Ngọc Nữ hả? – Bà hỏi.
– Dạ. Bà có coi hả bà?
– Coi. Hát được lắm. – Bà dừng một chút. – Mà chữ "về" con hát lạ.
– Lạ sao bà?
Bà già không trả lời. Bà cúi xuống, đậy nắp nồi lại.
– Bà ở làng này hả bà? – Thoa hỏi tiếp. – Con chưa thấy bà hôm qua.
– Tui đi bán dạo. Chỗ nào có hát thì tui tới. Có hát là có người coi, có người coi là có người ăn chè.
– Hồi khuya bà có ra…
Nhưng bà già đã đứng dậy, kê đòn gánh lên vai, nhấc bổng hai đầu quang gánh lên một cách nhẹ nhàng, nhẹ nhàng hơn Thoa tưởng một người già như vậy có thể làm. Bà quay lưng, đi thẳng vô dòng người trong chợ. Cái nón lá nhấp nhô một chút giữa những cái nón khác, rồi lẫn mất.
Thoa đứng đó, tay cầm chén chè còn nóng.
Cô nghĩ tới bà già dưới cây đèn đường ở đầu xóm Rạch Gáo đêm lên đường. Cái nón lá. Đôi quang gánh. Cách đây sáu trăm cây số.
Cô lắc đầu. Ở cái xứ này, bà già nào bán chè dạo mà chẳng đội nón lá, chẳng gánh quang gánh.
Cô ăn chén chè. Gừng cay xé lưỡi, cay tới chảy nước mắt.
Trên đường về, cô đi ngang bãi. Ông Sáu Kình vẫn ở dưới hàng dương, nhưng giờ ông đã ngồi xuống cát, hai tay ôm gối. Thoa ngồi xuống bên cạnh ông.
– Con mới ăn một chén chè gừng ở cổng chợ, ông Sáu.
Ông Sáu quay qua nhìn cô. Rồi ông nhìn ra biển.
– Cay không?
– Cay xé lưỡi.
– Hồi đó Lựu nấu chè cũng cay xé lưỡi. – Ông nói. – Cả gánh ăn không nổi, có mình ông ăn. Ông ăn tới chảy nước mắt mà Lựu cứ đứng chống nạnh coi, không cho bỏ.
Ông không hỏi cô mua chè của ai. Thoa cũng không kể. Hai ông cháu ngồi đó, nghe sóng, cho tới khi chị Hai Ngộ ra bãi kêu về ăn cơm.
Về tới đình, Thoa kể cho bà Tám nghe. Bà Tám lắc đầu quầy quậy.
– Con Lựu mà còn sống thì giờ nó mới sáu mươi bốn. Con nói bà già đó cỡ tám chục. Với lại con Lựu chết dưới sông Hậu, cả gánh đi kiếm ba ngày ba đêm. Bà ngồi trên xuồng kiếm với ông Sáu nè. Không phải nó.
– Vậy thì ai biết cái lệ của cô Chín Lựu?
– Thì… – Bà Tám ngập ngừng. Rồi bà chắp tay lại, nói nhỏ như sợ ai nghe. – Thì nó về chớ ai.
Đêm mười sáu là đêm cuối của gánh ở Vĩnh Phước. Gánh hát một tuồng thầy khác. Thoa không ra sân khấu, cô ngồi phụ bà Tám trong buồng hoá trang, khâu lại cái viền áo của Ngò bị sút chỉ hồi đêm qua.
Gần mười giờ, cô ra sau đình lấy nước thì nghe tiếng ông Năm. Ông đứng khuất sau bức tường lăng Ông, quay mặt vô vách, điện thoại áp tai.
– …ông nghe ai nói?… Đèn tắt thì đèn tắt, gió biển mà… Ông coi trên mạng hả? Con nhỏ trong gánh nó quay chơi, ông tin chi… Không, cháu tôi khoẻ. Gánh khoẻ. Đi đủ bảy đình… Ông Bửu, tôi nói lần chót, ông đừng có gọi tôi lúc đang hát…
Ông tắt máy, đứng yên một lúc. Thoa thấy ông đưa tay lên ngực, xoa xoa chỗ trái tim, rồi lấy vỉ thuốc ra.
Cô lặng lẽ quay đi, không để ông thấy.
Lúc đi ngang sân khấu, cô gặp Ngò ngồi bó gối trên mấy bậc thang gỗ, điện thoại trong tay, mặt méo xệch.
– Chị Thoa. – Nó nói như sắp khóc. – Clip đèn tắt hồi tối qua em đăng lên, giờ hơn hai trăm ngàn lượt coi rồi. Người ta vô bình luận quá trời. Có người nói gánh mình làm màu kiếm view. Có người nói chị sắp chết. Có người ở đâu không biết, nhắn cho em, hỏi gánh còn đi mấy đình, đình nào ngày nào…
– Em trả lời chưa?
– Em… em lỡ trả lời rồi. – Ngò cúi gằm mặt. – Em tưởng người ta muốn tới coi.
Thoa ngồi xuống bên cạnh nó, vòng tay qua vai con nhỏ. Vai Ngò run run.
– Thôi. Em xoá cái clip đó đi. Còn lịch diễn thì đình nào cũng dán thông báo ngoài cổng, ai muốn biết cũng biết. Không sao đâu.
Gần nửa đêm, tan hát, bà con về hết, Thụ mới tìm tới chỗ Thoa. Anh ngồi xuống bên cạnh cô trên bậc thềm buồng hoá trang, tay cầm cái máy ghi âm nhỏ và một cặp tai nghe.
– Cô Thoa. – Anh nói, và giọng anh lần đầu tiên không còn cái vẻ điềm tĩnh của một người làm nghiên cứu. – Tui nghe lại băng đêm qua. Cả buổi chiều nay. Cô nghe thử đoạn ni.
Anh đưa cho cô cặp tai nghe. Thoa đeo vào. Anh bấm nút.
Tiếng ồn của sân đình, tiếng sóng xa xa, tiếng trống chiến lùi dần. Rồi giọng cô vang lên, đi qua lớp gỗ mặt nạ nên trầm và xa:
Đình ơi, mở cửa cho con về.
Chữ "về" kéo dài, rơi xuống, rồi nhấc lên một chút ở cuối, đúng như cách cô hát.
Nhưng ở dưới giọng cô, chậm hơn chừng nửa nhịp, có một giọng khác.
Giọng đàn bà. Rất nhỏ, rất thấp, gần như chìm lẫn vào tiếng sóng. Nó không hát lời. Nó chỉ ngân theo, ngân đúng giai điệu câu ra, theo đuôi giọng cô như cái bóng theo người. Tới chữ "về", giọng kia không rơi xuống như cô. Nó vút lên cao, thật cao, rồi mới buông rơi, như một người đang đi bỗng ngoái đầu nhìn lại.
Thoa giật tai nghe ra. Bàn tay cô lạnh ngắt.
– Ngò hát theo trong cánh gà? – Cô hỏi, giọng khàn đi.
– Lúc đó Ngò ngồi trong buồng hoá trang với bà Tám. – Thụ nói. – Cái micro của tui đặt sau trống chầu, quay lên sân khấu, cách buồng hoá trang mười mấy thước, cách một bức vách. Tui đã thử cho Ngò hát trong buồng hoá trang rồi thu lại. Không nghe được một tiếng nào.
Thoa nhìn cái máy ghi âm nhỏ xíu nằm trong lòng bàn tay anh. Đèn đỏ đã tắt. Nhưng cô có cảm giác cái giọng kia vẫn còn đâu đó trong nó, đang ngoái đầu lại.
— Hết chương 6 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe