Chương 11: Hai gương mặt trên bàn thờ
Năm giờ sáng hai mươi lăm tháng Giêng, ông Chín Tộ mở cửa chánh điện đình Tân Lộc như mọi buổi sáng suốt bốn mươi năm nay. Ông bước vô, chống gậy, quờ tay tìm bao diêm để thắp nén nhang đầu ngày.
Rồi ông đứng sững lại, kêu lên một tiếng.
Thoa đang ngủ trên chiếu trong gian bên. Cô nghe tiếng kêu ấy và bật dậy trước cả khi kịp hiểu mình nghe thấy gì. Khi cô chạy vô chánh điện, chân trần trên nền gạch lạnh, ông Chín Tộ vẫn đứng nguyên giữa gian, hai tay run run chống lên cây gậy, mặt ngửa lên về phía bàn thờ.
– Có cái gì trên đó. – Ông nói. – Tao thấy không rõ. Có cái gì trắng trắng.
Bàn thờ chánh điện đình Tân Lộc là một cái án gỗ dài, sơn son thếp vàng đã bạc màu. Trên án có bát nhang đồng, hai cây chân đèn, cái lư trầm, mấy bình bông giấy. Phía sau là khám thờ có rèm che.
Ngay chính giữa án, trước bát nhang, có một cái gói nhỏ bọc vải.
Không phải vải điều. Đó là một cái áo bà ba lụa màu tím hoa cà, gấp gọn gàng, ôm quanh một vật gì đó cỡ một khuôn mặt người. Một góc áo xổ ra, để lộ một mảng màu trắng ngà.
Thoa không dám bước tới. Cô đứng đó, tim đập dồn, cho tới khi nghe tiếng chân bà Tám chạy vô sau lưng, rồi tiếng chân Thụ, tiếng chân Đờn, rồi tiếng ông Năm chống gậy lộc cộc.
Bà Tám nhìn thấy cái áo trước khi nhìn thấy bất cứ thứ gì khác. Bà khuỵu xuống.
– Áo của con Lệ. – Bà nói, giọng như hụt hơi. – Bà may cho nó. Lụa tím, cúc bấm. Bà may cho nó mặc Tết năm Canh Dần.
Thoa bước tới. Cô đưa hai tay mở nhẹ cái áo ra, từng lớp, từng lớp. Lụa đã cũ, mỏng, phai màu ở các nếp gấp, thơm một mùi nhang trầm đậm đặc, như đã được ướp cả chục năm trong khói nhang.
Bên trong là chiếc mặt nạ Ngọc Nữ.
Đôi mày lá liễu. Chấm son giữa trán. Đôi môi hé mở. Hai lỗ mắt hạt đậu. Và dưới khoé mắt trái, giọt lệ vàng.
Không ai nói gì. Cả gánh lúc này đã dồn hết vô chánh điện, đứng chen nhau sau lưng Thoa. Ông Năm đứng sát bên cô, thở khò khè.
– Bà Tám. – Thoa nói, không quay lại. – Bà mở rương đi bà.
Bà Tám bò dậy, chạy ra buồng hoá trang. Một lát sau bà trở vô, hai tay nâng chiếc mặt nạ trong rương, bước từng bước run rẩy, như sợ làm rớt. Bà đặt nó xuống án thờ, bên cạnh cái thứ nhất.
Hai chiếc mặt nạ nằm cạnh nhau trên án thờ, dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm lọt qua cửa chánh điện. Hai gương mặt gỗ giống nhau như hai giọt nước. Cùng màu trắng ngà. Cùng đôi môi hé mở. Cùng giọt lệ vàng.
Ngò thút thít khóc sau lưng thằng Tồ. Chị Hai Ngộ chắp tay, miệng lẩm bẩm không ra tiếng. Ông Sáu Kình bước lên một bước, cúi xuống nhìn, rồi lùi lại.
Thoa đưa ngón tay trỏ ra.
Cô chạm vào giọt lệ vàng của chiếc mặt nạ trong rương. Láng. Phẳng. Như mặt kính. Như suốt mười mấy ngày nay.
Rồi cô chạm vào giọt lệ vàng của chiếc mặt nạ bọc trong áo tím.
Đầu ngón tay cô vấp phải một đường gồ. Một đường sần sần, nhô lên chừng một sợi chỉ, chạy dọc theo vệt vàng từ khoé mắt xuống. Như vết khâu trên đầu gối một đứa con nít bị té trầy chân.
Cô rụt tay lại. Rồi cô chạm lần nữa, miết dọc theo nó, chậm rãi, từ đầu tới cuối. Đúng rồi. Đúng cái cảm giác hồi mười tuổi, ngồi trong lòng má trước gương, má cầm ngón tay cô đặt lên giọt lệ. Cô đã không nhớ nhầm.
– Cái này. – Cô nói, giọng cô nghẹn lại. – Cái này mới là cái thiệt.
Cô lật cả hai chiếc mặt nạ lại, đặt mặt trong lên trên.
Chiếc trong rương: năm dòng tên, mực tàu đen đều, nét chữ ngay ngắn, cái nào cũng nghiêng một góc như nhau, cái nào cũng có độ đậm như nhau. Cộng thêm dòng "Bính Ngọ" nghiêng nghiêng của Thoa mới viết ở Vĩnh Phước.
Chiếc bọc trong áo tím: cũng những cái tên đó, nhưng mỗi dòng một kiểu. "Bảy Ngọc – Nhâm Thìn" viết bằng nét bút lông mảnh, cổ kính, mực đã ngả màu nâu. Hai chữ "Đinh Dậu" bên cạnh là một nét khác, run hơn, đậm hơn, như người viết đang cố giữ cho tay mình khỏi run. "Ba Lài – Bính Ngọ" nét chữ tròn, to, hơi vụng. "Chín Lựu – Mậu Thìn" nét chữ thanh, đẹp, có cái móc nhẹ ở cuối mỗi chữ. "Út Lệ – Canh Dần" và ngay bên dưới, "Kiều Thoa".
Hai dòng cuối cùng một nét chữ. Chữ "Lệ" có cái nét móc hơi dài. Chữ "Thoa" cũng có cái nét móc hơi dài ở cuối, y như vậy.
Thoa biết nét chữ này. Cô có bảy tấm thiệp sinh nhật cất trong hộp thiếc dưới gầm giường ở nhà dì Bảy. Từ năm ba tuổi tới năm chín tuổi, năm nào cũng một tấm, năm nào cũng mấy chữ "Thương con gái của má", nét móc hơi dài.
Chính má đã viết tên cô vào đây.
Không có dòng "Bính Ngọ" nào trên chiếc mặt nạ này. Thoa chưa từng chạm vào nó trước sáng nay.
– Cái trong rương là đồ làm giả. – Thụ nói nhỏ sau lưng cô. – Người làm nó chép lại hết mấy cái tên, chép bằng một tay, một lần. Chép cả cái tên cô.
Cả chánh điện im phăng phắc. Chỉ có tiếng một con chim sâu lích chích trên cây sao ngoài sân.
Ông Năm là người lên tiếng trước. Ông không nhìn ai. Ông nhìn hai chiếc mặt nạ trên án thờ.
– Cái nào… – Giọng ông khàn đặc, gần như không ra tiếng. – Cái nào là cái của má ông?
Thoa nâng chiếc mặt nạ bọc trong áo tím lên, đặt vào hai tay ông.
Ông Năm cầm lấy nó. Hai bàn tay già nua, gân xanh nổi cuồn cuộn, ôm chiếc mặt nạ như ôm một đứa trẻ sơ sinh. Ông đưa một ngón tay cái run run lên, chạm vào giọt lệ vàng. Ông miết dọc theo nó, chậm rãi, giống hệt như Thoa vừa làm.
Rồi ông khóc. Không ra tiếng. Không nhăn mặt. Chỉ có nước mắt chảy dài xuống hai gò má nhăn nheo, rơi xuống lớp sơn trắng ngà, đọng lại một chút trên giọt lệ vàng, rồi lăn xuống.
– Mười sáu năm. – Ông nói. – Mười sáu năm ông lạy một cái đồ giả.
Không ai dám đụng vào ông. Bà Tám quỳ xuống bên chân ông, ôm lấy đầu gối ông mà khóc.
Thoa quay lại nhìn cả gánh. Cô nhìn từng người. Ông Sáu Kình, miệng há ra, không nói được gì. Đờn, mặt trắng bệch dưới làn da đen sạm. Chú Út Bền, chị Hai Ngộ. Ngò và thằng Tồ. Sển, đứng tựa vô cột ở phía cửa, mặt không biểu lộ gì.
Và chú Ba Trọng.
Chú đứng ở cuối cùng, gần cửa nhứt. Mặt chú không trắng như mặt những người khác. Mặt chú xám. Xám như tro. Chú không nhìn hai chiếc mặt nạ trên án thờ. Chú nhìn cái áo bà ba lụa tím mà Thoa vừa gỡ ra, đang vắt trên mép án, một vạt áo buông thõng xuống.
Khi bắt gặp ánh mắt của Thoa, chú quay đi. Chú bước ra khỏi chánh điện, ra sân, đứng dưới gốc cây sao, lưng quay về phía đình.
Ông Sáu Kình bước tới bên án thờ. Ông cúi xuống chiếc mặt nạ thật, mặt trong còn ngửa lên trên tấm áo tím. Ông đưa một ngón tay vàng khè mùi trầu ra, dừng lại ở dòng chữ thứ ba. Chín Lựu – Mậu Thìn.
Ông không chạm vào nó. Ngón tay ông lơ lửng trên lớp gỗ chừng một đốt tay, run run, dò theo từng nét chữ trong không khí.
– Chữ con Lựu. – Ông nói, như nói với chính mình. – Cái móc ở cuối chữ đó, nó học của ông thầy đồ ở Mỹ Lương. Nó khoe với ông hoài. Cái đồ giả người ta chép đâu có ra cái móc đó.
Ông rút tay về, nắm lại, rồi đứng thẳng lên.
– Hồi nào đổi? – Ông Sáu Kình hỏi, giọng run run. – Hồi nào cái đồ giả nằm trong rương?
– Năm Canh Dần, bà cất nó vô rương. – Bà Tám nói, vẫn quỳ bên chân ông Năm. – Sau đám ma con Lệ, bà gói nó vô vải điều, cất vô, khoá lại. Bà không dám nhìn mặt trong. Bà không dám nhìn cái tên con Lệ. Bà cất mười sáu năm mà bà không biết mình cất cái gì.
– Vậy là có người đổi trước đó. – Thụ nói. – Trong mùa Canh Dần.
– Hoặc đêm đó. – Thoa nói.
Ông Chín Tộ, nãy giờ đứng im ở góc chánh điện, lúc này mới lên tiếng.
– Người hỏi tao giờ mở cửa đình. – Ông nói. – Chiều hôm kia. Chắc là người đó để cái này lên đây.
– Ông có nhớ gì về người đó không ông? – Thoa hỏi. – Cao thấp? Già trẻ? Giọng nói?
Ông Chín Tộ lắc đầu.
– Mắt tao kém. Tao chỉ nhớ giọng nhỏ nhẹ. Lễ phép. Giọng người có học, hoặc giọng người quen hát.
Không ai nói gì nữa. Trong gánh Phước Xuân, ai mà không phải người quen hát.
Thoa nhìn chiếc áo bà ba tím vắt trên mép án. Cô cầm nó lên, gấp lại theo những nếp gấp cũ đã hằn sâu trong lụa. Mười sáu năm, ai đó đã gấp nó đúng theo những nếp này, mở ra, rồi gấp lại, không biết bao nhiêu lần. Mùi nhang trầm thấm vào từng sợi tơ, đậm tới mức cô tưởng như mình đang cầm một bó nhang chưa đốt.
Đúng lúc đó, điện thoại trong túi áo ông Năm reo lên một tiếng. Tiếng tin nhắn.
Ông Năm không nhúc nhích. Ông vẫn ôm chiếc mặt nạ trên tay. Đờn rút cái điện thoại trong túi áo ông ra, nhìn màn hình, rồi nhìn Thoa, mặt biến sắc.
– Đọc đi. – Ông Năm nói.
Đờn đọc, giọng ngắc ngứ:
– "Anh Năm. Nghe nói sáng nay ở đình Tân Lộc có hai cái mặt nạ. Tôi trả gấp đôi giá tôi nói hôm trước. Bửu."
Thoa nhìn đồng hồ trên điện thoại của mình. Năm giờ bốn mươi hai phút sáng.
Chưa tới một tiếng đồng hồ kể từ khi ông Chín Tộ mở cửa chánh điện. Ngoài người trong gánh và một ông thủ từ mắt kém, chưa có ai khác biết.
Cô quay lại nhìn Ngò. Con nhỏ lắc đầu lia lịa, giơ điện thoại lên, mở ra cho cô coi: trang cá nhân của nó, bài đăng mới nhứt là từ mấy ngày trước, hồi còn ở Lạch Bà.
– Em không có đăng! – Nó nói, nước mắt lại trào ra. – Em thề! Em không có đăng gì hết!
Thoa tin nó. Cô nhìn qua những gương mặt còn lại trong chánh điện. Rồi cô thấy Thụ cũng đang làm đúng như vậy, đôi mắt sau cặp kính cận lặng lẽ đi từ người này sang người khác, chậm rãi, như đang đếm.
— Hết chương 11 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe