Chương 4: Trống chầu lúc nửa đêm
Đình Vĩnh Phước quay mặt ra biển, và biển ở đây không chịu im một phút nào.
Gánh Phước Xuân tới nơi lúc ba giờ chiều mười ba tháng Giêng, sau gần một ngày đêm trên đường. Chiếc xe khách bò qua con đèo cuối cùng, lượn mấy khúc cua sát vách đá, rồi đổ dốc xuống một vũng biển hình lưỡi liềm. Làng nằm gọn trong lòng vũng: mái ngói, mái tôn, hàng dương xanh rì, những chiếc thuyền thúng úp sấp trên cát như những cái nón khổng lồ ai bỏ quên. Mùi nước mắm, mùi cá phơi, mùi rong biển phả vô qua cửa sổ, mặn tới rát cổ.
– Quê ông cố con đó. – Ông Năm nói, không quay lại, giọng khác hẳn mọi khi. – Ông cố con sinh ra dưới mái nhà nào trong cái làng này, ông cũng không biết nữa. Ông chỉ biết cái đình.
Đình nằm trên một gò cát cao nhứt làng, sát mép bãi. Mái ngói âm dương đã rêu xanh, bốn góc mái cong vút có gắn mảnh sành hình rồng. Bên phải đình là lăng Ông, nơi làng thờ những bộ xương cá voi dạt vô bờ từ bao đời. Trước sân đình là một cây bàng già, gốc to ba người ôm, rễ trồi lên mặt cát như những ngón tay bấu xuống đất.
Đối diện chánh điện, cách một khoảng sân lát gạch, là nhà võ ca, nơi gánh hát dựng sân khấu. Một cái nền xi măng cao ngang ngực, có mái che, ba mặt trống trơn cho gió lùa. Phía trước sân khấu, ngay chính giữa, người ta đã đặt sẵn một cái trống chầu trên giá gỗ, mặt trống quay về phía sân khấu. Mặt da đã ngả màu nâu sậm, tang trống sơn đỏ, có vẽ một con rồng đã phai.
Ông Tư Lẫy, chánh bái đình Vĩnh Phước, ra tận chân gò đón gánh. Ông chừng bảy mươi, người nhỏ thó, đen nhẻm, mặc áo dài the đen, đội khăn đóng, nói giọng biển nặng trịch, chữ nào cũng như bị gió đánh dạt đi.
– Gánh Phước Xuân về rồi nghen bà con! – Ông Tư la lên với đám con nít đang bu quanh xe. – Ông bầu Năm đây nè! Con của ông bầu Tảo, người làng mình đó!
Bọn con nít ồ lên. Mấy bà già ngồi vá lưới dưới gốc dương ngước lên nhìn, có bà đứng dậy, khom lưng đi lại gần, nheo mắt nhìn ông Năm như nhìn một người quen đã lâu không gặp.
Thoa xuống xe, đứng trên cát. Gió biển thổi bạt mái tóc cô ra sau. Cô nhìn lên mái đình rêu phong và nghĩ: bảy mươi năm trước, bà cố cô đã đứng đúng chỗ này, nhìn đúng cái mái này, bắt đầu mùa diễn cuối cùng của đời bà.
Cả buổi chiều đó, gánh dựng sân khấu.
Đờn trèo lên giàn, cột phông, treo đèn. Thằng Tồ ở dưới chuyền dây. Sển đi nối điện từ máy phát, đi dây gọn gàng dọc theo chân cột, chỗ nào cần quấn băng keo thì quấn kỹ. Bà Tám Liên chọn một góc khuất sau cánh gà làm buồng hoá trang, căng một tấm bạt, kê một cái bàn, dựng tấm gương lớn có khung gỗ mà bà chở theo từ Rạch Gáo. Hai cái rương được khiêng vô đặt sát vách, ngay dưới bàn thờ Tổ nhỏ mà ông Năm dựng tạm, có một bát nhang, hai ngọn đèn dầu, một đĩa trái cây.
Thụ đi một vòng quanh nhà võ ca, đo đạc, ghi chép, chọn chỗ đặt máy ghi âm. Anh đặt một cái micro nhỏ trên giá, ngay sau cái trống chầu, chĩa lên sân khấu.
– Chỗ ni nghe rõ nhứt. – Anh giải thích với Thoa. – Tiếng hát, tiếng trống chiến, tiếng chầu, nghe đủ cả.
– Anh tin chuyện ma không? – Thoa hỏi.
Thụ ngưng tay, nhìn cô qua cặp kính.
– Tui tin là người ta sợ thiệt. Còn ma thì tui chưa gặp, nên tui chưa nói được.
Lúc mặt trời xuống sau lưng núi, Thoa thấy ông Năm chống gậy đi một mình xuống bãi. Cô đi theo. Ông dừng lại ở chỗ cát ướt, nơi sóng vừa liếm lên rồi rút, đứng nhìn dãy nhà thấp lè tè chạy dọc mé biển.
– Ông cố con bỏ làng đi năm hai mươi tuổi. – Ông nói khi nghe tiếng chân cô sau lưng. – Đi với một cây đờn cò với hai bộ đồ. Ổng kể, sáng hôm ổng đi, má ổng đứng trên bãi này, cầm cái nón vẫy hoài. Ổng không dám quay lại, sợ quay lại là không đi được.
– Rồi ông cố có về không ngoại?
– Về. Năm năm mươi bảy, dắt cả gánh về hát. Má ổng mất trước đó ba năm. – Ông Năm cúi xuống nhặt một cái vỏ ốc nhỏ, phủi cát, bỏ vô túi áo. – Người ta đi rồi, muốn về thì cũng về được. Mà về thì không còn ai đứng đó đợi nữa.
Sóng tràn lên tới mũi dép ông. Ông không lùi lại.
Tối hôm đó làng làm mấy mâm cơm đãi gánh ngay dưới gốc bàng. Cá thu một nắng chiên, mực tươi hấp gừng, bát canh chua cá móm nấu với khế, đĩa bánh căn còn nóng hổi chấm nước mắm nêm. Ông Tư Lẫy rót rượu gạo mời ông Năm, ông Năm uống một ly, rồi lắc đầu không uống nữa. Mấy ông già trong làng kể chuyện gánh Phước Xuân mấy chục năm trước về hát, đông tới mức người ta trèo lên cả cây bàng mà coi. Có thằng nhỏ té gãy tay mà vẫn không chịu về.
Một bà già tóc bạc trắng, lưng còng gần gập đôi, chống cây gậy tre, ngồi lặng lẽ ở rìa mâm. Bà không ăn, chỉ nhìn. Khi Thoa đi ngang, bà níu tay cô lại. Bàn tay bà lạnh như cá.
– Con là đứa đội mặt nạ hả?
– Dạ.
Bà gật gật, buông tay ra, không nói gì nữa. Ông Tư Lẫy ghé tai Thoa nói nhỏ:
– Bà Thiệt đó. Tám mươi chín tuổi rồi. Hồi gánh về năm năm mươi bảy, bả mới hai mươi, bưng nước cho gánh. Bả nói bả còn nhớ bà Bảy Ngọc. Mai con lại nói chuyện với bả. Giờ bả mệt rồi.
Đêm mười bốn, gánh hát đêm đầu tiên.
Trước giờ hát, ông Tư Lẫy làm lễ xây chầu. Ông mặc áo dài, khăn đóng, ngồi nghiêm trang trước cái trống chầu, tay cầm dùi. Cả sân đình im lặng. Ông đánh mấy hồi trống, rồi cất giọng đọc một bài khấn dài, lúc trầm lúc bổng, chữ Hán Việt lẫn chữ nôm. Ông xin thần làng chứng giám, xin cho gánh hát được bình an, cho làng được mưa thuận gió hoà, cá tôm đầy ghe. Đọc xong, ông đánh một tiếng trống thật lớn, vang ra tới tận bãi. Ông Sáu Kình ở sau cánh gà đáp lại bằng một hồi trống chiến dồn dập. Kèn của chú Út Bền vút lên.
Đêm đó gánh hát một tuồng thầy. Chú Ba Trọng ra vai kép võ, mặt vẽ đỏ, râu dài, cờ lệnh cắm sau lưng phần phật. Chú hát một câu khách mà cả sân reo lên. Ông Tư Lẫy ngồi sau trống chầu, gật gù, đánh một tiếng "tùng" khen. Bà con ngồi chật cả sân, ngồi trên chiếu, trên ghế nhựa, ngồi cả trên mấy cái thuyền thúng lật úp. Bọn con nít trèo lên cây bàng, y như mấy ông già kể.
Thoa đứng sau cánh gà coi. Cô coi chú Ba, coi ông Sáu đánh trống, coi Ngò ra vai thị nữ, hát hơi run nhưng không lạc. Cô coi bà Tám Liên lăng xăng sau màn, kim chỉ ngậm trên miệng, sẵn sàng khâu lại một đường viền bị sút. Cô coi ông ngoại ngồi im lìm trên cái ghế đẩu sát bàn thờ Tổ, mắt nhắm lại, như đang nghe một thứ âm thanh khác ngoài tiếng hát.
Cái trống chầu nằm giữa ánh đèn, mặt da hướng lên sân khấu, như một con mắt lớn đang nhìn.
Gần mười hai giờ đêm thì tan hát. Bà con về hết. Đèn sân khấu tắt, chỉ còn một bóng đèn tròn treo ở đầu hồi nhà võ ca. Gánh trải chiếu ngủ ngay trên sân khấu và dưới hiên đình. Mấy người đàn ông ngủ trên sân khấu, đàn bà ngủ ở gian bên đình, nơi ông Tư Lẫy đã dọn sẵn mấy cái chiếu và mùng. Ông Năm ngủ trên một chiếc ghế bố ở góc buồng hoá trang, sát hai cái rương.
Thoa nằm cạnh Ngò và bà Tám. Ngoài kia biển ầm ầm. Gió lùa qua mái ngói nghe như có ai thổi sáo.
Cô gần như sắp ngủ thì nghe tiếng đầu tiên.
Tùng.
Âm thanh trầm, dày, dội qua sân gạch, qua vách đình, dội tận vào lồng ngực cô. Không thể lẫn với tiếng sóng. Không thể lẫn với tiếng gió. Đó là tiếng một cái dùi gỗ nện xuống mặt da trâu căng thẳng.
Ngò chồm dậy, chụp lấy tay Thoa.
– Chị Thoa…
Tùng.
Tiếng thứ hai. Lần này rõ hơn, gần hơn. Bà Tám Liên ngồi bật dậy, hai tay chắp lại, miệng lẩm bẩm khấn.
Tùng.
Tiếng thứ ba. Rồi im.
Chỉ còn tiếng sóng. Mà tiếng sóng lúc đó bỗng dưng nghe xa lắm, như biển đã lùi ra cả trăm thước.
Thoa vén mùng, chạy ra hiên. Ngoài sân đình, bóng đèn tròn ở đầu hồi vẫn sáng, đung đưa trong gió, hắt cái bóng của cây bàng già chao qua chao lại trên sân gạch. Cái trống chầu nằm im trên giá. Không có ai ngồi sau nó. Không có ai đứng gần nó. Hai cây dùi gỗ vẫn nằm trên cái đĩa nhôm bên cạnh, y như lúc ông Tư Lẫy đặt xuống hồi tan hát.
Từ phía sân khấu, mấy cái đầu ló ra khỏi mùng. Chú Út Bền ngồi dậy, tóc rối bù. Thằng Tồ đứng sững, tay cầm cái đèn pin chưa bật. Đờn nhảy từ sân khấu xuống, chân trần, chạy một vòng quanh cái trống chầu, rọi đèn pin ra phía bãi, rọi lên cây bàng, rọi vô góc tối sau lăng Ông.
– Không có ai hết! – Đờn la lên. Giọng anh hơi lạc đi. – Không có ai hết, ông ơi!
Thụ chạy tới, áo mặc ngược, tay cầm cái máy ghi âm nhỏ đang nhấp nháy đèn đỏ. Anh để máy ghi âm chạy suốt đêm. Anh không nói gì, chỉ đi thẳng tới cái trống chầu, cúi xuống nhìn mặt trống.
Thoa đi theo anh. Cô nhìn thấy cái anh nhìn thấy.
Mặt da trống chầu bám một lớp bụi muối mỏng, cái lớp trắng mịn mà gió biển phủ lên mọi thứ ở làng này chỉ sau vài tiếng đồng hồ. Ở giữa mặt trống, có một vệt tròn sạch, to cỡ đầu dùi, như có ai vừa chùi đi.
Không phải một vệt. Ba vệt, chồng lên nhau, lệch nhau một chút.
Thụ đưa tay định chạm, rồi rụt lại.
Thoa ngoái lại phía buồng hoá trang. Ông Năm đã dậy. Ông đứng ở mép sân khấu, hai tay buông thõng, bóng ông đổ dài xuống sân gạch dưới ánh đèn tròn. Ông không nhìn cái trống. Ông nhìn ra biển, nơi sóng bạc đầu đang cuộn vào bãi trong bóng tối.
– Ngoại. – Thoa gọi.
Ông Năm không quay lại. Giọng ông nghe bình thản lạ lùng, bình thản như người đã chờ một chuyện gì đó suốt cả đời và bây giờ nó tới.
– Cô về rồi.
— Hết chương 4 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe