Chương 25: Cù lao Tân Thạnh
Chiếc phà nhỏ chở được đúng hai chiếc xe, nên gánh Phước Xuân qua sông Hậu làm hai chuyến. Xe tải qua trước. Xe khách qua sau.
Thoa đứng ở mũi phà chuyến sau, nhìn cù lao Tân Thạnh hiện ra giữa sông. Một dải đất dài, thấp, xanh rì, nằm như con cá sấu khổng lồ ngủ giữa dòng nước màu sữa đặc. Bờ cù lao là những rặng bần, rặng dừa nước, thân cây ngả xuống sát mặt sông. Sau rặng bần là vườn, những ngọn dừa cao vượt lên trên những tán xoài, tán vú sữa. Mấy chiếc ghe chở trái cây đậu dọc bờ. Trên một khúc bờ cao hơn, ở khoảng giữa cù lao, có một mái ngói cong rêu xanh nhô lên khỏi vòm cây, và cạnh đó, cao hơn mái ngói, một cái chóp gỗ đen sẫm vuông vức.
Cái gác chuông.
Cô nhìn nó cho tới khi phà cập bến.
Mười sáu năm trước, cô tới cù lao này bằng đúng đường này. Cô ngồi trong cabin xe tải, giữa má và Đờn, mút một cây kẹo kéo má mua ở bến phà bên kia. Má cột tóc cho cô bằng một sợi thun màu xanh. Má chỉ cái gác chuông, nói "Con coi kìa, cái tháp đó cao chưa". Cô nhớ cô đã ngước nhìn nó, rồi lại cúi xuống mút kẹo.
– Bé Thoa.
Đờn đứng chờ ở đầu bến. Anh qua chuyến trước, chạy xe tải vô đình rồi đi bộ ra đón. Anh đưa cô một chai nước.
– Em có sao không?
– Em không sao.
Anh không tin. Cô cũng không tin. Hai anh em đứng trên bến, nhìn cái chóp gỗ đen sẫm nhô lên khỏi vòm cây, không ai nói thêm gì.
Đình Tân Thạnh nằm giữa cù lao, sân trước quay ra sông. Sân rộng, lát gạch tàu đã lún chỗ cao chỗ thấp, cỏ mọc ở các kẽ gạch. Chánh điện mái ngói ba gian, cột gỗ căm xe. Nhà võ ca ở bên trái sân, mái tôn mới, sàn xi măng. Bên phải sân, sát mé sông, là cái gác chuông.
Nó cao hơn trí nhớ của cô một chút, khác với cái mặt nạ. Bốn cây cột gỗ lớn chôn sâu xuống đất, đỡ ba tầng sàn ván, càng lên càng nhỏ. Tầng trên cùng có mái ngói nhỏ, bốn góc cong, dưới mái treo một quả chuông đồng đã xanh rỉ. Một cái thang gỗ dựng ở mặt sau, mặt quay ra sông, dẫn lên tầng một, rồi từ tầng một có một cái thang khác, dốc hơn, dẫn lên tầng trên cùng. Lan can tầng trên cùng còn mới, gỗ sáng màu hơn hẳn mấy cây cột đen sẫm. Người ta đã thay.
Ở chân gác chuông, mặt quay vô sân đình, có một khoảng đất trống nhỏ. Cỏ mọc thấp. Không có gì đánh dấu.
Thoa đứng đó.
Ông thủ từ đình Tân Thạnh tới đứng bên cạnh cô lúc nào cô không hay. Ông tên Bảy Lũy, chừng bảy mươi, người thấp đậm, da đen bóng, cái đầu trọc lốc như trái dừa khô, mặc áo bà ba nâu, đi chân không.
– Cô là con của cô Út Lệ. – Ông nói. Không hỏi.
– Dạ.
Ông Bảy Lũy chắp tay sau lưng, nhìn khoảng đất trống dưới chân gác chuông.
– Sáng đó tui mở cửa đình sớm. – Ông nói. – Năm giờ. Mưa còn lâm râm. Tui đi ra đánh chuông sớm như mọi rằm, mọi lễ. Tui thấy cô nằm đó.
Thoa không nói gì.
– Cô nằm nghiêng. Tóc xoã. Mặc cái áo bà ba trắng. – Ông nói tiếp, giọng đều đều, giọng của người đã kể chuyện này nhiều lần với chính mình. – Cô không có bị gì trên mặt. Mặt cô sạch trơn, như người đang ngủ. Tui kêu người ta. Tui chạy lên coi. Tầng trên cùng, cái lan can gãy một khúc, ván mục. Năm đó làng nghèo, gác chuông lâu rồi không ai sửa. Tháng sau làng góp tiền thay hết lan can, thay mấy tấm ván. Cái cũ đem đốt.
– Ông có thấy gì khác không ông?
Ông Bảy Lũy nhìn cô.
– Thấy gì là thấy gì?
– Con không biết. Cái gì không giống mọi bữa.
Ông nghĩ một lúc lâu. Rồi ông lắc đầu.
– Tui già rồi, cô. Mười sáu năm. – Ông ngừng một chút. – Tui chỉ nhớ dây chuông bị giựt lệch. Sợi dây đay buộc vô quả chuông, bình thường thả thẳng xuống, sáng đó nó vắt qua một bên lan can, như có ai quơ trúng. Tui gỡ ra, thả lại cho thẳng.
Thoa nhìn lên. Dưới mái ngói nhỏ trên đỉnh gác, sợi dây đay buông thẳng từ quả chuông xuống, dài tới lan can tầng trên cùng, đong đưa nhẹ trong gió sông.
Buổi chiều, gánh dựng sân khấu. Đờn leo giàn treo đèn. Thằng Tồ chuyền dây. Không có Sển, chú Út Bền phải đi nối điện, vừa nối vừa than, cứ quấn băng keo xong lại gỡ ra quấn lại. Thụ đi một vòng quanh đình, quanh gác chuông, chụp hình, ghi chép. Ông Năm ngồi trên ghế bố trong nhà võ ca, uống thuốc, nhìn ra cái gác chuông, không nói gì.
Bà Mười Gừng đã về cù lao từ chuyến phà trước. Bà ghé đình chào ông Bảy Lũy, ông Bảy Lũy nhìn bà một lúc, rồi kêu lên "Bà Mười bán chè!". Bà Mười cười. Ở cái cù lao này, mười sáu năm nay, bà chỉ là bà Mười bán chè.
Rồi bà quay qua Thoa.
– Con đi với tui một chút.
Bà dẫn cô đi dọc bờ sông, ra phía bến đình. Cái bến là một cầu tàu bằng ván, chìa ra sông chừng chục thước, mấy cây cọc dừa đóng hai bên cho ghe buộc. Ở đầu bến có một cái quán nước nhỏ, mái lá, mấy cái ghế đẩu, một bà chủ quán ngồi bán thuốc lá lẻ.
– Năm đó quán cũng ở đây. – Bà Mười nói. – Mấy người trong gánh ngồi dưới mái hiên quán uống rượu. Đèn bến treo ngay đó.
Bà chỉ lên một cây cột điện ở đầu cầu tàu, trên có một bóng đèn tròn chụp sắt.
Rồi bà dẫn Thoa đi tiếp, xuôi theo bờ, chừng năm chục bước, tới một cái chòi nhỏ dựng sát mé nước, mái lá dừa nước đã mục, ba mặt trống, một băng ghế ván. Chòi giữ ghe của người ta, để ban đêm có người ngồi canh mấy chiếc ghe đậu ở bãi.
– Tui ngồi đây. – Bà Mười nói. Bà ngồi xuống băng ghế ván. – Dựa cái cột này.
Thoa ngồi xuống bên cạnh bà. Từ chỗ này nhìn về phía bến, cô thấy được cây cột đèn, thấy được mái hiên quán nước, thấy được một khoảng sân đình phía sau. Và xa hơn một chút, bên phải, nổi lên trên nền trời chiều, cái gác chuông.
– Người đó chạy từ gác chuông xuống. – Bà Mười chỉ. – Chạy ngang qua chỗ đèn. Rồi quẹo qua phía kia.
Bà chỉ về phía bên trái bến, nơi có một bãi đất trống rộng, bây giờ là chỗ đậu xe tải với xe khách của gánh.
– Năm đó xe khách đậu chỗ nào bà?
– Ngay đầu bãi. Gần bến nhứt. – Bà Mười nói. – Còn xe tải thì đậu sâu bên trong, sát nhà võ ca.
Thoa nhìn bãi đất trống. Cô nhớ cái cabin xe tải. Cô nhớ tiếng mưa trên mái tôn của thùng xe. Cô nhớ tiếng chuông.
Đờn đi tới, đứng ở mép chòi. Anh không bước vô. Anh nhìn bà Mười, rồi nhìn xuống đất.
– Ông Năm biểu con đi kiếm bà. – Anh nói. – Ông biểu tối nay bà ăn cơm với gánh.
Bà Mười nhìn anh.
– Mầy ăn với tui không?
Đờn không trả lời. Anh đứng đó một lúc, rồi cúi xuống, nhấc đôi quang gánh của bà lên vai, đi trước, xuôi theo bờ sông về phía cuối xóm. Bà Mười đứng dậy đi theo. Thoa đi sau cùng. Cô thấy bà Mười đi chậm, cứ cách vài bước lại ngước lên nhìn cái lưng to bè của thằng con trai đang gánh đôi quang gánh của mình.
Bà Mười không ở trong đình. Bà ở cái chòi của bà, sau rặng bần cuối xóm, cách đình gần một tiếng đi bộ. Đờn gánh đôi quang gánh tới tận đó, đặt xuống trước cửa chòi, rồi đứng lóng ngóng như không biết đi đâu.
Cái chòi nhỏ, vách lá, nền đất nện. Một cái giường tre, một cái bếp ba ông táo, mấy cái nồi nhôm đen thui úp trên giàn. Không có hình ảnh gì. Không có bàn thờ ông bà. Chỉ có trên vách lá đầu giường, cái khăn voan trắng viền chỉ bạc máng trên một cây đinh tre, rủ xuống như một tấm màn nhỏ.
Và ngay dưới cái khăn, kẹp vô một nan lá, có một mẩu giấy cạc tông cắt vuông, cỡ bao diêm, đã ngả màu khói bếp. Trên đó có mấy chữ viết bằng mực tàu, nét chữ thanh, có cái móc nhẹ ở cuối mỗi chữ.
Đờn. Tháng Chín, Mậu Thìn.
Đờn đứng nhìn mẩu giấy đó rất lâu. Anh đưa ngón tay to bè lên, chạm vô chữ "Đờn", rồi rụt về như chạm phải than.
– Ông Năm đặt tên con là Đờn. – Anh nói, không quay lại. – Bà bỏ con ở cổng rồi ông mới đặt.
– Tui đặt trước. – Bà Mười nói sau lưng anh. – Đêm nó ra đời, bà mụ nói nó khóc như kéo đờn. Tui viết liền. Tui không nói với ai. Tới Tết, tui bỏ nó ở cổng nhà Tổ, ông Sáu bồng vô, rồi ông Năm đặt cũng đúng cái tên đó. – Bà ngừng một chút. – Tui nghe người ta kể lại, tui ngồi khóc một ngày.
Đờn không nói gì. Anh quay ra, đi một mạch về phía đình. Nhưng lúc đi ngang Thoa ở cửa chòi, cô thấy mặt anh ướt.
Chạng vạng, lúc mặt trời vừa lặn xuống sau rặng bần bờ bên kia, một chiếc đò máy nhỏ cập bến đình. Một người đàn ông bước lên cầu tàu, tay xách một cái túi vải, mặc áo sơ mi trắng đã nhàu.
Chú Ba Trọng.
Chú đi thẳng vô sân đình, tới chỗ ông Năm đang ngồi trên ghế bố. Chú đứng trước mặt ông, cúi đầu.
– Anh Năm. Con về.
Ông Năm nhìn chú. Một lúc lâu. Rồi ông gật đầu.
– Đi thay đồ. Tối nay mầy hát kép võ.
Chú Ba gật đầu. Chú đi ngang qua Thoa. Chú không nhìn cô. Nhưng lúc chú đi ngang, cô ngửi thấy trên người chú một mùi rất rõ, rất quen. Mùi nhang trầm.
Đêm mùng Mười, gánh hát tuồng thầy. Bà con cù lao tới đông. Chú Ba hát kép võ, giọng vẫn ngon, vẫn lên cao không bể, cả sân reo hò. Ông Năm ngồi ghế bầu, không ngủ gục, không nhắm mắt. Ông nhìn chú Ba suốt đêm.
Tan hát, Thoa ngồi một mình trên bậc thềm chánh điện. Trăng mùng Mười đã gần tròn, treo cao trên sông, sáng vằng vặc. Ánh trăng rọi cái gác chuông thành một khối đen sẫm in trên nền trời bàng bạc. Sợi dây chuông đong đưa.
Ông Bảy Lũy đi khoá cửa chánh điện, thấy cô ngồi đó, dừng lại.
– Cô muốn lên gác chuông thì sáng mai tui mở cái thang cho. – Ông nói. – Từ năm đó làng khoá cái thang tầng hai lại, sợ con nít leo.
– Dạ. Con cảm ơn ông.
Ông Bảy Lũy đứng thêm một chút, như còn muốn nói gì.
– Mà tui nói cô nghe chuyện này. – Ông nói. – Từ năm đó tới giờ, năm nào cũng vậy. Tới đêm mười ba rạng mười bốn tháng Hai, có người lên gác chuông thắp nhang. Tui không biết ai. Sáng mười bốn tui lên quét thì thấy chân nhang cắm ở kẽ ván tầng trên cùng. Ba cây. Mười lăm năm rồi. Năm nào cũng ba cây.
Thoa ngước lên nhìn cái gác chuông.
– Cái thang tầng hai làng khoá rồi mà ông.
– Thì vậy. – Ông Bảy Lũy nói. – Cái ổ khoá không ai đụng tới. Mà năm nào cũng có ba cây nhang.
— Hết chương 25 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe