Chương 30: Giỗ má
Tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ngả màu vàng, gấp tư, mép sờn, góc dưới có một vết dầu loang. Chú Ba Trọng đặt nó lên cái bàn gỗ trước mặt ông Năm, cạnh cuốn sổ bìa xanh.
– Ba công vườn ở quê con, bên kia sông Tiền. – Chú nói. – Của ba má con để lại. Mười mấy năm nay con cho người ta mướn trồng chanh. Người hàng xóm hỏi mua hoài. Con gọi rồi, ổng trả tám chục. Ổng chịu đưa tiền trước rằm tháng Ba.
Sáng mười ba tháng Hai. Gánh nghỉ, không có đêm hát. Ông Năm ngồi ở gian khách đình Tân Thạnh, nhìn tờ giấy, không cầm lên.
– Tiền gánh thiếu thì gánh lo. – Ông nói.
– Gánh thiếu sáu chục. – Chú Ba nói. – Con bán cái mặt nạ của gánh một lần. Anh Năm cho con trả lại một lần.
Ông Năm im lặng rất lâu. Rồi ông kéo cái cặp da của chú Ba lại gần, cái cặp mà mười mấy năm nay chú đựng hợp đồng, đựng thư mời, đựng sổ sách. Ông mở ra, đặt tờ giấy vô trong, đóng lại. Ông đẩy cái cặp về phía Thoa.
– Con giữ. – Ông nói. – Từ giờ con giữ sổ.
Chú Ba Trọng cúi đầu. Chú đứng dậy, đi ra ngoài. Ông Năm không nhìn theo.
Chiều mười ba, bà Tám với chị Hai Ngộ đi chợ cù lao. Bà Tám mua một con gà mái tơ, một ký nếp, mấy trái dừa xiêm, một bó bông huệ. Bà Mười Gừng xuống bến mua một bịch quýt đường của một chiếc ghe chở trái cây ghé ngang. Ông Bảy Lũy cho mượn cái bàn thờ gỗ nhỏ của đình, loại người ta khiêng đi cúng ở miếu ven sông.
– Đám giỗ thì làm ở nhà. – Bà Tám nói với Thoa. – Mà nhà con Lệ ở đâu? Ở trong xe tải. Ở trong gánh. Ở đây.
Tối mười ba, Thoa ngồi với Thụ trên cầu tàu. Trăng mười ba đã gần tròn, mặt sông Hậu lấp lánh như rắc vảy cá. Mấy chiếc ghe đậu ở bến gõ mạn vô cọc dừa lộc cộc.
– Anh Thụ. Chú Ba lên công an rồi người ta làm gì chú?
Thụ đẩy gọng kính lên. Anh nghĩ một lúc lâu trước khi trả lời, cái kiểu nghĩ của người không muốn nói điều mình không chắc.
– Tui không phải người học luật. – Anh nói. – Tui chỉ biết người ta sẽ lấy lời khai. Lời chú Ba, lời ông Năm, lời bà Mười, lời cô. Lời ông Bửu nữa. Người ta coi lại hồ sơ năm đó. Chú Ba bán đồ không phải của mình, chú giấu, chú bỏ người bị nạn mà không kêu ai. Mấy cái đó nặng nhẹ ra răng là việc của người ta. Không phải việc của mình.
– Em không muốn chú đi tù. – Thoa nói. – Mà em cũng không muốn chú không đi.
Thụ không nói gì. Anh nhìn cô, rồi nhìn ra sông.
– Đêm đó ở trên gác chuông, chú nói chú không kêu ai. – Thoa nói tiếp. – Em nghe câu đó, em muốn xô chú xuống. Em nói thiệt với anh. Em đứng đó mà em nghĩ vậy.
– Mà cô không xô.
– Em không xô. – Cô nói. – Em đi xuống thang. Em nghĩ, chú đi lên công an thì chú phải nói câu đó thêm một lần nữa, trước mặt người lạ. Rồi nói lần nữa, lần nữa. Mười sáu năm chú không nói với ai. Giờ chú phải nói hoài.
Thụ đưa tay ra, đặt lên mu bàn tay cô, chỗ sợi chỉ đỏ còn quấn ba gút trên cổ tay. Anh đặt đó một chút, rồi rút về.
– Đi ngủ đi cô. – Anh nói. – Mai giỗ.
Sáng mười bốn tháng Hai năm Bính Ngọ, giỗ thứ mười sáu của Út Lệ.
Cái bàn thờ nhỏ đặt trên cầu tàu bến đình, chỗ mười sáu năm trước má cô quăng cây dù đen xuống ván. Trên bàn có một tấm hình. Không phải hình thờ ở nhà Tổ. Là tấm ảnh chụp ở chính bến này, mùa Canh Dần, má mặc áo bà ba tím, tựa đầu vô vai một người đàn ông. Chú Ba Trọng lấy kéo cắt đôi tấm ảnh, bỏ phần của chú, chỉ để lại má. Thoa đứng nhìn chú cắt. Chú cắt chậm, đường kéo thẳng tắp. Cô không nói gì.
Một đĩa xôi gà. Một tô canh chua. Một đĩa quýt đường. Một chén chè trôi nước gừng bà Mười nấu. Một bình bông huệ. Hai ngọn đèn dầu. Một bát nhang cắm vô cái lon sữa bò đổ đầy cát sông.
Cả gánh đứng thành hàng trên cầu tàu. Ông Bảy Lũy đứng ở đầu bến. Mấy người trong xóm đi ngang dừng lại coi, có người cởi nón đứng yên.
Ông Năm thắp nhang trước. Ông đứng trước tấm ảnh rất lâu, môi mấp máy. Rồi ông nói ra thành tiếng, không lớn, mà cả cầu tàu nghe rõ.
– Út. Ba đây. – Ông nói. – Đêm đó ba ngồi ở đầu hồi. Ba thấy. Ba không hỏi. Mười sáu năm ba không hỏi. Ba nói với mình là ba giữ gánh cho con. Con đâu có biểu ba giữ.
Ông ngừng lại. Gió sông thổi mấy sợi tóc bạc trên trán ông bay lơ thơ.
– Còn một đình nữa là gánh đi đủ bảy đình, rồi giải tán. – Ông nói. – Con Thoa nó đội. Nó hát hay. Nó hát chữ về không giống con. Mà con nghe thử coi.
Rồi ông cắm ba cây nhang vô lon cát, chống gậy lùi ra.
Bà Tám thắp nhang. Bà khấn thành tiếng, khấn lộn xộn, chen chuyện may áo, chuyện sợi chỉ đỏ, chuyện cái áo bà ba tím, rồi bà khóc, không khấn được nữa.
Ông Sáu Kình thắp nhang. Bà Mười thắp nhang. Lúc bà Mười cắm nhang xong quay ra, cái nón lá trên tay bà tuột rớt xuống ván cầu tàu, lăn tới mép nước. Ông Sáu cúi xuống lượm lên trước khi nó rớt xuống sông. Ông phủi phủi cái nón, đưa cho bà. Bà cầm lấy. Hai người không nói gì. Nhưng lúc lùi về hàng, ông Sáu đứng sát bên bà, vai chạm vai.
Đờn thắp nhang. Ngò, thằng Tồ, chú Út Bền, chị Hai Ngộ. Thụ thắp nhang, cúi đầu ba cái theo kiểu người Huế, chậm và sâu.
Chú Ba Trọng là người cuối cùng. Chú cầm ba cây nhang, không thắp liền. Chú quỳ xuống ván cầu tàu, ngay trước bàn thờ. Chú quỳ như vậy rất lâu, lâu tới mức mấy người trong xóm đứng coi bắt đầu xì xào. Rồi chú thắp nhang, cắm vô lon cát, lạy ba lạy, trán chạm xuống ván.
Chú không đứng dậy liền. Chú ngồi trên hai gót chân, ngẩng lên nhìn Thoa.
– Chú xin con một chuyện nữa. – Chú nói. Cả gánh nghe. – Đêm thứ bảy ở Mù U, lớp chót. Lớp chót phải có người đứng trong cổng đình nhận ấn. Ông bầu Tảo soạn lớp đó, không ai biết người nhận ấn là ai, mà phải có người. Chú xin con cho chú đứng đó. Đêm đó xong, sáng ra chú đi.
Thoa nhìn chú. Cô nghĩ tới cái gói vải máng trên cây đinh sau quả chuông. Cô nghĩ tới hai bàn tay chú chụp trúng cái gói mà không chụp trúng tay má.
– Không. – Cô nói.
Chú Ba gật đầu, như đã biết trước.
– Chú ngồi dưới coi. – Thoa nói. – Ngồi chỗ nào cũng được. Mà chú không lên sân khấu đó nữa. Cái cổng đình đó, con không để chú đứng.
– Dạ. – Chú Ba nói. Chú nói "dạ" với cô, như nói với ông Năm.
Chú đứng dậy, lùi về cuối hàng.
Thoa bước lên trước bàn thờ. Cô không thắp nhang liền. Cô đứng nhìn tấm ảnh má một lúc. Má cười. Một nửa nụ cười, vì phần còn lại đã bị cắt đi, đường kéo thẳng tắp ngay sát má.
Rồi cô làm một chuyện cô chưa từng làm.
Cô hát câu ra. Không trống, không kèn, không mặt nạ, đứng trên cầu tàu bến Tân Thạnh, quay mặt ra sông Hậu.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Lần này, chữ "về" cô không kéo xuống. Cô không nhấc lên. Cô không luyến. Cô hát nó thẳng một đường, ngắn, chắc, không lấy hơi lại, dứt như người ta đóng một cánh cửa. Rồi im.
Trên cầu tàu không ai thở.
Ông Năm chống gậy bước lên một bước. Bàn tay ông run trên cán gậy.
– Đúng rồi. – Ông nói. Giọng ông khàn đặc, nghẹn lại. – Má con hát vậy. Đúng rồi.
Thoa thắp nhang. Ba cây. Cô cắm vô lon cát, bên cạnh mười mấy cây nhang của cả gánh đang cháy, khói bay lên, bị gió sông bẻ ngang, trôi về phía cái gác chuông.
Trưa, cả gánh ăn giỗ ngay trên cầu tàu, trải chiếu ra ván, ngồi xếp bằng, thòng chân xuống nước. Ông Bảy Lũy ngồi ăn chung. Mấy đứa con nít trong xóm đứng lấp ló, bà Mười kêu lại, múc chè cho từng đứa. Ông Sáu Kình kể chuyện hồi Út Lệ mười tuổi trốn đi coi cải lương của gánh khác, bị ông Năm rượt chạy ba vòng sân đình. Ông Năm nghe, không cãi, khoé miệng giật nhẹ một cái.
Chú Ba Trọng ngồi ở cuối chiếu, ăn một chén xôi, không nói gì.
Trước khi dọn bàn thờ, bà Mười Gừng múc thêm một chén chè, chén sành nhỏ men nâu, đặt ở mép cầu tàu, sát mặt nước, như bà vẫn đặt ở mép sân khấu suốt mùa này.
– Mời cô. – Bà nói. Rồi bà ngồi xổm xuống, sửa cái chén cho ngay. – Mời con Lệ nữa. Hồi nhỏ mầy chê chè tao cay. Giờ ăn đi.
Suốt buổi chiều hôm đó nước lớn dần. Thoa ra bến coi mấy lần. Cái chén chè vẫn còn đó. Nước sông dâng lên liếm sát chân chén, mà không lấy nó đi.
Gần tối, Thụ tìm Thoa ở bậc thềm nhà võ ca. Anh cầm điện thoại, mặt lo lắng.
– Đài báo áp thấp ngoài biển. – Anh nói. – Chiều mai, đêm mai, mũi đất phía nam có giông lốc. Gió giật mạnh. Người ta khuyên ghe nhỏ vô bờ.
– Mai mình đi Mù U.
– Rứa đó.
Thoa nhìn lên trời. Trời trên sông Hậu trong vắt, xanh ngắt, không một gợn mây. Chỉ có mặt trời hơi đỏ hơn mọi ngày, và gió sông thổi từng cơn ngắn, đứt quãng, đổi hướng liên tục, như con thú đang đánh hơi.
Ông Năm nghe Thụ báo, ngồi im một lúc, rồi bấm điện thoại gọi đình Mù U. Ông để loa ngoài.
Đầu dây bên kia, một giọng ông già cất lên, chậm, run run, mà rành rọt từng chữ. Giọng của người đã viết lá thư tay chữ run run, ký tên một ông chánh bái tám mươi bảy tuổi, có thêm một dòng "Ngọc Nữ khởi đi từ đâu thì xin về ở đó".
– Anh Năm hả? Tui nghe đài rồi. – Ông già nói. – Anh đừng lo. Giông thì giông. Đình tui đứng đây trăm mấy năm, giông không sập.
Ông ngừng lại một chút. Tiếng gió rít qua điện thoại, như ở đầu bên kia gió đã bắt đầu thổi.
– Mà anh Năm. – Ông già nói. – Anh nhớ không? Năm năm mươi bảy, đêm đó cũng giông.
— Hết chương 30 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe