AI Truyện

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Vết sứt trên vòng dấu nổi

Dấu nổi sứt góc ở hiệu ảnh Bến Thượng · Chương 1/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc🎧 9 phút · giọng Bảo Thiện

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Cô làm cho chị tôi cười lại được không?
  2. 1:36Cái tay này của ai hả chú?
  3. 2:39Bản thân cô không có tấm ảnh nào của…
  4. 3:58Nhã ngẩng lên. Ông Chiểu đang nhìn tấm ảnh…
  5. 5:02Cô kéo khung hình xuống góc dưới bên phải…
  6. 5:52Họ làm việc thêm một tiếng nữa. Nhã xóa…
  7. 7:22Cô in thử một bản trên giấy ảnh mờ,…
  8. 8:39Tiếng một người đàn bà, khàn đặc, gào sát…

Chương 1: Vết sứt trên vòng dấu nổi

– Cô làm cho chị tôi cười lại được không?

Ông Chiểu hỏi câu ấy lần thứ ba trong buổi chiều, lần nào cũng vào lúc Nhã vừa cúi xuống màn hình. Ông ngồi trên cái ghế nhựa đỏ kê sát bàn làm việc, hai bàn tay to bè đặt trên đầu gối, móng tay còn dính vữa. Ông năm mươi tư tuổi, có một cửa hàng vật liệu xây dựng ở phường Bến Thượng. Từ tháng Chín đến giờ, ông đã đi xe máy ba chục cây số vào thành phố bốn lần, chỉ để ngồi xem cô làm.

– Chị ấy đang cười đấy chú ạ. – Nhã nói. – Chỉ là cái khóe miệng bị nấm mốc ăn mất một mảng. Cháu phải vẽ lại.

– Thế cô vẽ theo cái gì? Cô có biết chị tôi đâu.

– Cháu vẽ theo nửa bên kia. Mặt người ta không đối xứng hoàn toàn, nhưng nụ cười thì hai bên thường kéo lên cùng một nhịp.

Ông Chiểu gật, không hẳn là hiểu, chỉ là gật cho cô làm tiếp. Ngoài cửa sổ, ngõ nhỏ đã lên đèn. Con mèo mướp nằm trên nóc tủ hồ sơ, đuôi buông thõng, thỉnh thoảng giật một cái như đang mơ đuổi chuột.

Tấm ảnh gốc nằm trong cái khay nhựa bên cạnh bàn phím, được kẹp giữa hai tấm kính. Ảnh đen trắng, khổ chín nhân mười hai, bốn góc quăn, mặt ảnh rạn như mặt ruộng nẻ. Bốn người đứng trước một tấm phông vẽ hồ nước có cây liễu rủ. Một ông đàn ông gầy, tóc chải ngược, cúc áo cài lên tận cổ. Một bà mặc áo cánh, tay cầm cái đèn ông sao. Một thằng bé chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mắt nheo vì đèn. Và một cô gái ngoài hai mươi, tóc tết một bím vắt qua vai, nghiêng người về phía bà mẹ như vừa bị ai trêu.

Mép ảnh bên phải có một thứ lạc lõng: một khuỷu tay áo, một phần cánh tay ai đó lọt vào khung hình. Tay áo màu sẫm, chỗ khuỷu có miếng vá hình chữ nhật, đường khâu lộ ra từng mũi.

– Cái tay này của ai hả chú?

Ông Chiểu nheo mắt nhìn màn hình, nơi tấm ảnh đã được quét và phóng to gấp sáu lần.

– Chắc anh Toản. Người yêu chị tôi. Hồi ấy anh ấy hay sang. Bố tôi đặt máy chụp hẹn giờ, anh ấy cứ lảng vảng bên cạnh, bố tôi quát mãi mới chịu đứng ra ngoài. Ra ngoài mà vẫn thò cái tay vào.

– Có cần cháu xóa đi không?

Ông im một lúc.

– Thôi cô để đấy. Ảnh nhà tôi còn mỗi tấm này. Bớt cái gì đi tôi cũng tiếc.

Nhã gật. Cô chưa bao giờ hỏi khách câu ấy mà không ghi lại câu trả lời. Có những người muốn xóa cả một ông chồng cũ. Có những người khóc khi cô xóa một vết ố mà họ tưởng là nốt ruồi của mẹ.

Cô làm nghề phục chế ảnh cũ mười bốn năm. Phòng làm việc là gian gác hai của căn nhà ống trong một con ngõ gần chợ, có một cái máy quét, hai màn hình, một bàn đèn soi phim, một tủ đựng kính lúp, bút lông, găng vải. Khách của cô phần lớn là người già, hoặc con cháu của người đã mất. Họ mang đến những thứ còn sót lại sau bão, sau lụt, sau những lần dọn nhà: ảnh cưới bị chuột gặm, ảnh thẻ bé bằng con tem, ảnh bộ đội chụp vội trước ngày đi. Cô trả lại cho họ một khuôn mặt.

Bản thân cô không có tấm ảnh nào của mẹ.

Năm cô chín tuổi, mẹ mất vì lao phổi. Người ta phát hiện ra bệnh khi mẹ đã ho ra máu, đã sụt mười cân, đã không còn đứng nổi ở xưởng dệt. Hai năm sau, một trận bão kéo nước biển vào tận khu tập thể, nhà cô ở tầng một, cuốn album duy nhất ngâm trong nước ba ngày. Khi bố cô mở nó ra, các trang dính vào nhau thành một khối giấy xám. Cô nhớ mẹ bằng giọng nói, bằng mùi dầu gió, bằng cái cách mẹ quấn tóc lên bằng một chiếc đũa. Khuôn mặt thì mỗi năm lại mờ đi một chút.

Có lẽ vì thế mà cô giỏi việc này. Người ta đưa cho cô một khuôn mặt sắp mất, cô biết họ sợ cái gì.

– Hôm trước chú kể đến đoạn chị chú bị ngạt than. – Nhã nói, tay vẫn di bút trên bảng vẽ. – Chú kể tiếp đi.

Ông Chiểu xoa hai bàn tay vào nhau.

– Ừ. Rét đầu mùa năm tám bảy. Chị tôi hay rửa ảnh ban đêm, vì cả thị trấn mười giờ đêm mới có điện. Mùa đông thuốc lạnh, ảnh lên không đẹp, chị mang cái bếp than tổ ong vào buồng tối để hâm chậu nước. Buồng tối thì kín như cái hộp. Đêm ấy chị ngất trong đó. Mẹ tôi dậy đồ xôi lúc bốn giờ sáng, thấy đèn đỏ vẫn hắt ra khe cửa, mở ra thì chị nằm gục xuống bàn. Mẹ tôi lôi chị ra hiên, vừa lôi vừa gào. Tôi nhớ nhất cái tiếng gào ấy.

– Rồi chị tỉnh.

– Tỉnh. Mấy hôm sau lại đi làm như thường. – Ông ngừng một chút. – Giá mà hôm ấy chị đừng tỉnh thì tôi cũng chẳng biết nói thế nào. Có khi lại hơn.

Nhã ngẩng lên. Ông Chiểu đang nhìn tấm ảnh trên màn hình, nhìn cô gái tóc tết.

– Năm sau thì cháy. Đêm hai mươi ba tháng Chạp năm Mậu Thìn. Cả nhà về quê nội cúng ông Táo, năm nào cũng thế, ngủ lại ở quê. Chị tôi kêu đau bụng, ở lại trông nhà. Gần nửa đêm thì cháy từ buồng tối. Người ta bảo có can xăng để trong nhà, bố tôi mua về chạy máy phát. Lúc người ta phá được cửa sau thì chị tôi đã ở trong buồng tối.

Ông nói đều đều, như đọc lại một tờ giấy đã thuộc.

– Bố tôi bị bắt vì để xăng trong nhà gây cháy làm chết người. Ông nhận hết. Ngồi tù ba năm, ra tù thì đi biệt. Năm chín bảy có người báo về là ông mất ở một lò gạch trong Đồng Nai. Mẹ tôi về quê ngoại bán nước chè, đến năm hai nghìn lẻ chín thì mất. Tôi bỏ học, đi phụ hồ. Thế thôi cô ạ.

Nhã đặt bút xuống.

– Còn anh Toản?

– Anh ấy khóc ở đám chị tôi to hơn cả mẹ tôi. Sau Tết thì vào Sài Gòn, không thấy về nữa. Anh ấy cũng khổ. Năm tám tám xí nghiệp cử đi Tiệp, có tên rồi, lại bị gạch. Nghe đâu vì lý lịch.

Nhã không hỏi thêm. Cô đã học được rằng khách sẽ tự kể đến đâu thì đến đấy, gặng thêm thì họ đóng lại.

Cô kéo khung hình xuống góc dưới bên phải của tấm ảnh. Ở đó, trên nền phông vẽ, có một vòng tròn nổi gồ lên mặt giấy, cỡ đồng xu lớn, chạy vòng là hàng chữ in nổi không mực. Ánh đèn máy quét đã chiếu xiên làm vòng chữ hiện rõ: ẢNH PHÁC · BẾN THƯỢNG.

– Đây là con dấu nổi của hiệu nhà chú?

– Ừ. Bố tôi bấm vào góc mọi tấm ảnh. Cái kìm bằng đồng, nặng lắm.

Nhã phóng to thêm. Vòng tròn không liền. Ngay trên chữ G của chữ THƯỢNG, vành nổi bị khuyết một vệt nhỏ, như có ai cắn mất một miếng.

– Chỗ này bị sứt.

Ông Chiểu bật cười, lần đầu tiên trong buổi chiều.

– Tại tôi. Tôi nghịch, đánh rơi xuống nền gạch. Đúng hôm chị tôi vừa khỏi ngạt, cả nhà còn đang rối. Bố tôi tát tôi một cái nổ đom đóm mắt. Từ hôm ấy ảnh nào ra khỏi hiệu cũng có cái vết ấy. Bố tôi bảo đấy là cái sẹo của thằng Chiểu.

Ông đưa tay sờ lên má trái, như cái tát vẫn còn.

Họ làm việc thêm một tiếng nữa. Nhã xóa xong các vết rạn trên phông nền, dựng lại phần tóc của bà mẹ bị mốc ăn, chỉnh lại độ tương phản cho khuôn mặt ông bố khỏi bị bệt. Cô để lại khuỷu tay áo vá, để lại vòng dấu nổi sứt. Còn khóe miệng của cô gái thì cô hẹn ông tuần sau.

– Mười bảy tháng Chạp năm nay là giỗ chị tôi, cô nhé. – Ông Chiểu đứng dậy, đội cái mũ bảo hiểm cũ. – Tôi muốn treo lên trước hôm ấy.

– Giỗ chị là hai mươi ba chứ chú?

– Hai mươi ba thì trùng ông Táo, mẹ tôi bảo cúng chung một ngày thì tủi cho nó. Mẹ tôi lùi lên. – Ông ngừng ở đầu cầu thang. – Cô đừng làm cho chị tôi đẹp hơn ngày xưa nhé. Chỉ cần giống thôi.

Ông đi rồi, Nhã ngồi một mình với tấm ảnh.

Đêm ấy là rằm tháng Chín. Trăng lên từ chập tối, đến khuya đã treo trên mái tôn nhà bên, tròn và vàng như một cái đĩa sứ cũ. Con Mướp xuống khỏi nóc tủ, cọ đầu vào chân cô đòi ăn. Cô đổ cho nó một nắm hạt rồi pha một ấm trà, mở to tấm ảnh trên màn hình, và bắt đầu làm khóe miệng.

Cô không hẹn tuần sau nữa. Cô không biết tại sao. Có lẽ vì câu "giá mà hôm ấy chị đừng tỉnh". Có lẽ vì khuỷu tay áo vá. Có lẽ vì cô gái tóc tết, nghiêng đầu về phía mẹ, có cái dáng ngồi y hệt mẹ cô trong trí nhớ của một đứa trẻ chín tuổi.

Cô làm đến một giờ, hai giờ. Khóe miệng bên trái của cô gái hiện ra dần, mỗi lần một nét. Cô kéo nó lên, thấy giả, xóa đi. Cô nhìn nửa mặt bên phải thật lâu, đếm những nếp nhăn nhỏ ở đuôi mắt, đo khoảng cách từ cánh mũi xuống môi, rồi vẽ lại. Lần này nó không giả nữa. Cô gái cười. Không phải nụ cười chụp ảnh, mà là nụ cười của người vừa bị em trai thọc vào sườn.

Cô in thử một bản trên giấy ảnh mờ, khổ to. Máy in kêu rè rè, nhả ra tờ giấy còn ấm. Cô đặt nó lên bàn đèn, cạnh tấm ảnh gốc trong khay kính, và ngồi nhìn.

Gần ba giờ sáng. Trà đã nguội. Con Mướp ngủ trên cái ghế nhựa đỏ, chỗ ông Chiểu vừa ngồi.

Cô nghĩ đến cái vết khuyết trên vòng dấu nổi. Một thằng bé đánh rơi con dấu đúng cái hôm chị nó vừa thoát chết, và cái vết ấy theo mọi tấm ảnh của gia đình nó suốt hơn một năm, cho đến khi chính cái hiệu ảnh cháy rụi. Nhã đưa ngón tay chạm vào vòng tròn nổi trên tấm ảnh gốc qua lớp kính. Lạnh.

Cô định đứng dậy đi ngủ. Cô nhớ là đã định như thế.

Mùi đầu tiên là mùi khói than. Thứ khói đặc, hăng, xộc lên mũi như ai úp một cái nồi đất nung vào mặt. Rồi đến cái lạnh, cái lạnh ẩm thấm qua lưng áo. Rồi đến ánh sáng: một thứ ánh sáng đỏ, đỏ như máu loãng, phủ lên mọi thứ.

Cô mở mắt. Trên đầu cô là một bóng đèn bọc giấy bóng kính đỏ. Trần nhà bằng gỗ, mạng nhện giăng ở góc. Cô đang nằm, đầu ngoẹo trên một cái mặt bàn ướt, má áp vào thứ gì lạnh và nhẵn như men sứ. Mũi cô đầy mùi chua của dấm, mùi hắc của thuốc hãm ảnh, và trên hết là mùi than.

Có ai đó đang kéo cô. Hai bàn tay túm lấy nách cô, lôi giật về phía sau. Gót chân cô quệt xuống nền gạch.

– Hồng ơi! Hồng ơi! Ối giời ơi con ơi! Ông ơi, dậy mà xem con nó làm sao thế này!

Tiếng một người đàn bà, khàn đặc, gào sát bên tai.

Nhã cố nói, nhưng cổ họng cô như bị nhét đầy bông. Đầu cô đau như búa bổ. Cô thấy mình bị kéo qua một tấm rèm đen, qua một khung cửa, ra một gian nhà tối mờ có mùi gạo nếp đang đồ. Một luồng gió lạnh quất vào mặt khi người ta đẩy tung cửa ra hiên.

Trên trời, trăng vẫn còn treo, sà thấp về phía tây. Tròn, vàng, gần như y hệt cái trăng cô vừa nhìn qua cửa sổ.

Cô giơ tay lên che mắt. Bàn tay ấy gầy, ngón dài, đầu ngón tay ố vàng vì thuốc rửa ảnh. Trên mu bàn tay trái có một vết sẹo bỏng cũ, bóng và nhăn như vỏ hành.

Đó không phải tay cô.

— Hết chương 1 —

Mục lục Dấu nổi sứt góc ở hiệu ảnh Bến Thượng

  1. 1Vết sứt trên vòng dấu nổi9 phút
  2. 2Sáng mười sáu tháng Mười12 phút đọc
  3. 3Con dấu rơi xuống nền gạch12 phút đọc
  4. 4Ba tấm ảnh bốn sáu10 phút đọc
  5. 5Ảnh thờ của người không có ảnh10 phút đọc
  6. 6Than tổ ong và sổ gạo10 phút đọc
  7. 7Ông Táo về trời sớm10 phút đọc
  8. 8Những vòng tròn khuyết10 phút đọc
  9. 9Chữ viết tay của chính mình10 phút đọc
  10. 10Chấm kim trên vùng tóc10 phút đọc
  11. 11Giáp hạt10 phút đọc
  12. 12Phông vẽ hồ sen10 phút đọc
  13. 13Hai chỉ thêm10 phút đọc
  14. 14Thằng Chiểu muốn đi Đức10 phút đọc
  15. 15Cái máy hòm gỗ10 phút đọc
  16. 16Món nợ chia đôi10 phút đọc
  17. 17Đêm Lành ngồi ở bậc cửa10 phút đọc
  18. 18Cái bao có miếng vá chỉ đỏ10 phút đọc
  19. 19Người đứng sau lỗ thông hơi11 phút đọc
  20. 20Ảnh chụp hẹn giờ đêm Trung thu10 phút đọc
  21. 21Phim màu gửi lên Hà Nội11 phút đọc
  22. 22Ngõ có cây bàng12 phút đọc
  23. 23Trung úy Đoàn đọc âm bản10 phút đọc
  24. 24U đếm những thứ con quên10 phút đọc
  25. 25Viên gạch chặn cửa10 phút đọc
  26. 26Giá lên theo ngày10 phút đọc
  27. 27Cái can nhựa dưới gầm cầu thang10 phút đọc
  28. 28Lời bố khấn trước bàn thờ10 phút đọc
  29. 29Ba người cùng muốn một cái tủ phim10 phút đọc
  30. 30Tự thú11 phút đọc
  31. 31Ngày hai mươi hai10 phút đọc
  32. 32Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  33. 33Buồng tối không bật đèn đỏ10 phút đọc
  34. 34Dấu nổi sứt góc12 phút đọc
  35. 35Tết Kỷ Tỵ10 phút đọc
  36. 36Góc ảnh năm 202610 phút đọc

Về truyện này

Dấu nổi sứt góc ở hiệu ảnh Bến Thượng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →