Chương 30: Tự thú
Mười bảy tháng Chạp. Ở cái năm của ông Chiểu, đây sẽ là ngày giỗ của cô gái tên Hồng, cái ngày bà Nhàn lùi lên để khỏi phải cúng chung với ông Táo.
Nhã nghĩ đến điều ấy lúc cô ngồi viết. Cô ngồi ở cái bàn gỗ trong phòng nhỏ của trụ sở, trước mặt là mấy tờ giấy kẻ ô Trung úy Đoàn đưa, một cái bút bi, một lọ mực dự phòng. Bà Nhàn ngồi trên cái ghế băng sát tường, cái làn cói đặt dưới chân, hai tay khoanh trước ngực, áo bông cài kín cúc. Từ sáng đến giờ bà chưa nói một câu nào.
Sáng nay, lúc Nhã dắt xe ra, bà đã đứng ở hiên, cái làn cói trên tay.
– U đi với mày. – Bà nói. – U bảo bố mày là u lên chợ huyện mua hàng Tết.
Trong cái làn, bọc trong khăn vải màn, là viên gạch tổ Ba. Dưới viên gạch, gấp làm tư, là cái bao tải có miếng vá chỉ đỏ.
Bây giờ Nhã viết.
Cô viết bằng tay trái. Chữ nghiêng sang phải, đều, chữ g có móc ngược. Cô viết chậm, vì đây không phải là cái tờ khai cô có thể viết lại.
"Tôi tên là Ninh Thị Hồng, sinh năm 1965, con ông Ninh Văn Phác, hiệu Ảnh Phác, thị trấn Bến Thượng.
Từ khoảng tháng Tám năm 1987, tôi đã sửa ảnh cho ông Lã Văn Cẩn. Ông Cẩn đưa đến cho tôi ảnh và phim của hai người khác nhau. Tôi dùng bút chì và dao cạo sửa trên phim âm bản của người thứ hai, cho mặt người ấy giống mặt người thứ nhất. Người thứ nhất là người có tên trong danh sách đi lao động. Người thứ hai là người đi thay tên.
Tôi đã sửa những bộ sau đây…"
Cô kể ra từng bộ. Toản và Thắng. Kiên và Lực. Bảo và Hưng. Rồi đến lô tháng Ba: Bảo và Hưng làm lại, Đông và Vượng, Lâm và Khải. Sáu tấm ảnh hộ chiếu "cho T.". Cô ghi những gì ông Cẩn đã nói, những gì Toản đã nói, những ngày cô nhớ. Cô ghi rằng tôi đã nhận năm chỉ vàng của ông Cẩn, trong đó một chỉ đã trả lãi cho ông Cẩn thay bố tôi. Bốn chỉ còn lại tôi đã trả cho gia đình anh Kiều Văn Lành, cộng thêm một chỉ của tôi. Cô ghi rằng tôi đã chụp ảnh hồ sơ cho nhiều gia đình ở Lạc Hòa, Tân Hưng, Phú Lộc, Mộc Hạ, và đã nói với họ những câu ông Cẩn bảo tôi nói.
Cô không ghi "Hồng ngày trước". Cô không ghi "từ hôm tôi ngạt than". Cô ghi "tôi". Từ đầu đến cuối, chỉ có một người.
Rồi cô ghi đến cái kim.
"Từ lô tháng Ba năm 1988, mỗi tấm phim tôi phải sửa cho ông Cẩn, tôi lấy một cái kim khâu chấm một lỗ nhỏ vào vùng tóc ngay trên tai phải, để về sau nhận ra được. Trước khi sửa và sau khi sửa, tôi in mỗi tấm một bản tiếp xúc, cất riêng. Những bản ấy tôi đã nộp hôm qua."
Cô đặt bút xuống. Ba trang rưỡi. Cô đọc lại một lần, sửa một chữ sai dấu, rồi đẩy mấy tờ giấy sang phía Trung úy Đoàn.
Anh ta đọc. Đọc chậm, hai lần, như Toản đã nói. Đến đoạn cái kim, anh ta dừng lại, ngẩng lên.
– Chị chỉ cho tôi.
Nhã lấy trong cái phong bì giấy dầu ra hai bản in tiếp xúc của Hưng, bản trước và bản sau. Cô xin anh ta cái kính lúp. Anh ta mở ngăn kéo tủ sắt, lấy ra một cái kính lúp cán gỗ, loại người ta dùng để đọc chữ nhỏ trên giấy tờ. Cô đặt bản sau lên bàn, đặt cái kính lúp lên vùng tóc trên tai phải, đưa cho anh ta nhìn.
Trung úy Đoàn cúi xuống rất lâu.
– Chấm đen. – Anh ta nói.
– Vâng. Anh xem bản trước.
Anh ta xem bản trước. Không có chấm.
– Bất cứ tấm ảnh nào in ra từ phim tôi đã sửa, – Nhã nói, – đều có cái chấm ấy. Ở đúng chỗ ấy. Mắt thường không thấy. Kính lúp thì thấy.
– Kể cả sáu tấm ảnh hộ chiếu.
– Kể cả sáu tấm ấy.
Trung úy Đoàn đặt cái kính lúp xuống. Anh ta ngồi im một lúc, hai bàn tay đặt trên mấy tờ giấy kẻ ô.
– Chị Hồng. – Anh ta nói. – Tôi phải nói với chị cho rõ, để chị không hiểu nhầm. Chị tự đến đây, tự khai ra việc mình làm khi chưa ai bắt chị khai, chị nộp đồ vật, chị khai thành khẩn. Theo pháp luật, đấy là những tình tiết được xem xét giảm nhẹ. Nhưng giảm nhẹ không có nghĩa là không bị truy cứu. Việc chị làm có thể bị đưa ra xử. Xử thế nào, nặng hay nhẹ, là việc của tòa. Tôi không hứa được với chị điều gì cả.
– Em biết.
– Chị có muốn sửa gì trong bản khai không?
– Không ạ.
Anh ta nhìn cô thêm một lúc. Rồi anh ta quay sang bà Nhàn.
– Còn bác. Bác đi cùng chị Hồng, bác có muốn trình bày gì không?
Bà Nhàn đứng dậy khỏi cái ghế băng. Bà cúi xuống, nhấc cái làn cói lên, đặt lên bàn, mở cái khăn vải màn ra. Viên gạch đỏ nằm trên mặt bàn, ba vết lõm ở mặt dưới quay lên trên. Bà rút cái bao tải gấp tư ra, đặt bên cạnh.
– Có. – Bà nói. – Tôi trình bày về cái đêm con tôi ngạt than.
Bà kể. Bà kể chậm, rõ, không khóc. Bà kể cái bao vá chỉ đỏ bà khâu hồi tháng Bảy năm tám bảy bằng chỉ thừa áo cưới con Hương nhà bên. Bà kể bà cho mẹ thằng Toản mượn hồi tháng Chín. Bà kể đêm rằm tháng Mười, gần mười hai giờ, bà dậy đi giải, nhìn qua cửa sổ buồng thấy thằng Toản đứng dưới lỗ thông hơi buồng tối, cái xe đạp dựng ở bờ rào. Bà kể bốn giờ sáng bà dậy đồ xôi thấy đèn đỏ hắt ra khe cửa, mở ra thì con gái bà nằm gục trên bàn. Bà kể bà lôi cái bao này ra khỏi lỗ thông hơi, nó bị gấp làm tư, nhét vuông vức, chèn bằng viên gạch này. Bà kể bà đã bảo là gió thổi.
– Tôi bảo gió thổi. – Bà nhắc lại. – Tôi tin là gió thổi. Một năm.
Trung úy Đoàn ghi. Anh ta không ngắt lời bà lần nào.
Rồi Nhã kể phần của mình. Bà Hĩm thấy Toản dắt xe không đèn vào ngõ lúc mười một rưỡi, trên giỏ có gạch và cái bao, đi ra thì còn gạch mà mất bao. Sáng hôm sau Toản đứng ở đầu ngõ từ sáu giờ đến bảy giờ. Toản hỏi "em có nhớ gì không". Toản dặn "chuyện tối qua em nói với anh, coi như anh chưa nghe". Tối hôm trước Toản dặn tắt bếp, nghĩa là Toản biết trong buồng có bếp than đang cháy. Mẹ Toản bảo Toản mang cái bao đi trả đêm rằm. Gạch tổ Ba có ba vết ngón tay. Trên đê hồi tháng Bảy, Toản bảo "em đừng có như hôm ấy, đừng có đòi lên công an". Ba hôm trước, trên cầu sắt, Toản biết cái phong bì bị lấy ở nhà cô là phong bì không. Ông Cẩn hỏi bà Hĩm ngày giỗ, hỏi con Hồng có về không. Sáng hôm qua, lúc cô ra khỏi cổng trụ sở, ông Cẩn đứng bên kia đường.
Trung úy Đoàn ghi hết. Rồi anh ta đặt bút xuống, xoa hai bàn tay vào nhau như người bị lạnh.
– Việc này khó, chị Hồng ạ. – Anh ta nói. – Tôi nói thật. Đã hơn một năm. Không ai chết. Chị tỉnh lại, đi làm như thường. Cái bao là bao nhà bác, cái gạch là gạch lò, ai cũng có. Người ta sẽ bảo đấy là một trò đùa ác của người yêu giận nhau. Hoặc người ta bảo không có gì cả.
– Nếu u em dậy muộn nửa tiếng thì sao hả anh?
Anh ta nhìn cô.
– Thì tôi không phải ngồi đây với chị. – Anh ta nói. – Tôi biết. Tôi ghi lại. Tôi không bỏ.
Anh ta gấp mấy tờ biên bản, kẹp vào cái bìa các tông cùng với tờ khai của cô.
– Bây giờ tôi hỏi chị một câu. Cái tủ phim nhà chị còn những gì?
Nhã đã đợi câu này. Cô đã nghĩ cả đêm qua xem sẽ trả lời thế nào.
– Phim của chín tháng có chữ "hồ sơ", bố em đã rút ra khỏi tủ, cho vào ba cái bao tải, để dưới gầm bàn trong buồng tối. – Cô nói. – Bố em bảo tủ cũ, mọt.
Cô không nói đến cái can xăng. Cô không nói đến lời khấn. Trung úy Đoàn không hỏi bố cô cất để làm gì. Anh ta chỉ ghi.
– Ông Cẩn thấy chị ra khỏi đây sáng hôm qua. – Anh ta nói. – Anh Toản thì đã biết huyện sẽ về thu cái tủ sau Tết, vì bên xí nghiệp gạch người ta đã bị gọi lên. Cả hai đều đã hỏi han quanh nhà chị, phải không?
– Vâng.
– Ông Cẩn hỏi bà Hĩm nhà chị về quê hôm nào. Anh Toản bảo chị tự đốt đi, hai mươi ba nhà vắng. – Anh ta không hỏi, anh ta nhắc lại. – Thế thì tôi nghĩ thế này.
Anh ta nói kế hoạch của mình. Anh ta nói chậm, từng điều một, như đọc một biên bản.
Đồ vật chị Hồng nộp, anh ta giữ, không ai biết. Ba bao phim trong buồng tối thì để nguyên, ở đúng chỗ. Từ hôm nay, ở trụ sở, ở chợ, ở bên xí nghiệp gạch, người ta sẽ nghe là chị Hồng lên công an làm việc về cái đơn của các hộ Lạc Hòa. Rằng chị khóc lóc, chối, bảo phim để cả ở nhà, ra Giêng huyện về thì cứ thu. Huyện sẽ gửi giấy mời ông Cẩn và anh Toản lên làm việc sáng mồng sáu tháng Giêng, cùng ngày thu tủ phim. Đêm hai mươi ba, nhà chị về Mộc Hạ như mọi năm. Người ngoài phải thấy cả nhà đi.
– Ai muốn cái tủ ấy, – Trung úy Đoàn nói, – thì đêm ấy sẽ đến lấy. Tôi đợi họ ở trong nhà.
Nhã ngồi im. Bà Nhàn cũng vậy.
– Nhà em đi được. – Nhã nói. – Bố em, em trai em đi. Em với u em ở lại.
– Không được. – Anh ta nói ngay.
– Anh không biết cái nhà ấy trong bóng tối. Em biết. Em biết từng cái bậc, từng cái then, từng viên gạch kênh. Em biết buồng tối không bật đèn thì đứng ở đâu nghe được tiếng ngoài ngõ. – Cô nhìn anh ta. – Và nếu có ai hỏi sao không thấy con Hồng ở Mộc Hạ, thì người ta phải thấy con Hồng ở Bến Thượng. Người ta biết con Hồng hay ở lại.
Câu cuối cùng cô nói ra mà không nghĩ trước. Trung úy Đoàn không hiểu nó. Anh ta không cần hiểu.
Anh ta nhìn bà Nhàn.
– Bác nghĩ sao?
– Nó đi đâu thì tôi đi đấy. – Bà Nhàn nói. – Tôi đã bảo nó thế.
Trung úy Đoàn ngồi im rất lâu. Ngoài sân, cây xoan trụi lá đung đưa trong gió. Một anh công an trẻ đi ngang cửa, liếc vào, rồi đi tiếp.
– Có hai người của tôi ở trong nhà, cùng với tôi. – Cuối cùng anh ta nói. – Chị với bác ở buồng trong, không ra, không thắp đèn, không lên tiếng, dù nghe thấy cái gì. Chiều hai mươi ba, cả nhà đạp xe đi cho cả phố thấy. Tối, chị với bác đi đường đê về, vào ngõ sau. Chị không được làm gì theo ý chị. Chị đồng ý thì tôi đồng ý.
– Em đồng ý.
Họ ra khỏi trụ sở lúc gần trưa. Bà Nhàn ôm cái làn cói rỗng, đi trước. Bà không nói câu nào cho đến lúc qua cầu sắt. Đến giữa cầu, bà dừng lại, nhìn xuống dòng sông đã cạn mùa đông.
– Mười bảy tháng Chạp. – Bà nói. – Mai kia u sẽ nhớ cái ngày này.
Nhã quay sang nhìn bà. Ở cái năm của ông Chiểu, bà Nhàn đã nhớ cái ngày này suốt hai mươi năm, bằng một mâm cơm cúng con gái. Bà không biết. Bà sẽ không bao giờ biết. Nhã đứng bên cạnh bà trên cầu, nhìn xuống cùng một dòng sông, và không nói gì.
Về đến nhà, bố Phác đang ngồi ở quầy. Ông không dập dấu, không dán phong bì. Ông ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên mặt quầy, như người đợi khách.
– Đi đâu về?
– Đi chợ huyện, ông ạ. – Bà Nhàn nói. – Hết hàng.
Bố Phác nhìn cái làn rỗng. Ông không hỏi thêm. Ông quay sang Nhã.
– Bố vừa ở Mộc Hạ về. Bà nội ốm lại. Bà bảo năm nay cả nhà phải đủ. – Giọng ông không to, nhưng cứng như một cái then cửa. – Năm nay con Hồng cũng phải về quê. Ảnh màu thì treo biển, ai đến lấy thì hai mươi tư lấy. Không bàn nữa.
— Hết chương 30 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe