Chương 8: Những vòng tròn khuyết
Tấm ảnh thứ bốn mươi hai ra khỏi kìm dập lúc mười một giờ đêm hai mươi chín Tết, và Nhã đặt nó cạnh tấm ảnh mẫu trong tủ kính để so.
Hai vòng tròn nổi. Một vòng liền. Một vòng khuyết.
Cô đã dập bốn mươi hai lần trong ba ngày, mỗi lần một tấm ảnh tô màu giao cho khách lấy về treo Tết. Bóp kìm, nghe tiếng giấy lún, mở ra, đặt tấm ảnh lên chồng. Cô đã quen tay đến mức không còn nhìn. Nhưng đêm nay, lúc dập tấm cuối cùng, cô bỗng nhìn. Và cô thấy cái vệt khuyết trên chữ G hiện lên rõ như một cái răng sún.
Cô lật cả chồng ảnh Tết chờ giao ra xem lại. Tấm nào cũng có. Mấy bản in thừa của đoàn Lạc Hòa còn kẹp trong sổ, tấm ảnh thờ dự phòng của bà Lự cất dưới quầy, cũng có. Tất cả đều mang vòng tròn khuyết ở góc dưới bên phải.
Rồi cô mở tủ kính. Những tấm ảnh mẫu bày trong đó đã ố vàng, chụp từ năm ngoái, năm kia. Ảnh cưới, ảnh em bé, ảnh ông cụ ngồi ghế bành. Cô lật từng tấm ra xem góc. Vòng tròn liền, tròn trịa, không một vết sứt.
Không có tấm ảnh nào ra khỏi hiệu này trước ngày bảy tháng Mười Hai mà mang cái vết ấy. Không có tấm nào sau ngày ấy mà không mang.
Nhã ngồi xuống ghế. Cô nghĩ đến bàn đèn trong phòng làm việc của mình ở Hải Phòng, đến những lần cô phải định tuổi cho một tấm ảnh không ghi ngày. Người ta nhìn giấy, nhìn mực, nhìn kiểu tóc, kiểu áo, kiểu viền răng cưa. Có khi chỉ đoán được trong vòng mười năm. Còn ở đây, trong cái hiệu nhỏ này, có một thứ chia đôi thời gian ra rõ như lưỡi dao. Trước cái tát. Sau cái tát.
– Chị Hồng ơi, u bảo ra canh nồi bánh chưng!
Chiểu gọi từ sân sau. Cô cất tấm ảnh, đi ra.
Nồi bánh chưng đặt trên ba hòn gạch ở góc sân, to như cái thùng phuy, lửa củi đỏ rực bên dưới. Hai mươi cái bánh xếp trong nồi, nước sôi sùng sục, bốc hơi trắng xóa trong đêm rét. Bà Nhàn đã gói từ chiều, lá dong xanh, lạt giang trắng, buộc thành từng cặp. Chiểu ngồi xổm cạnh bếp, hơ tay, mặt đỏ hồng.
Nhã ngồi xuống cạnh nó. Lửa ấm phả vào mặt. Mùi lá dong chín, mùi gạo nếp, mùi đỗ xanh hành mỡ len trong hơi nước. Bên kia hàng rào dâm bụt, nhà hàng xóm cũng đang luộc bánh, tiếng người cười nói lao xao.
Cô chưa từng thức canh nồi bánh chưng. Ở Hải Phòng, từ năm cô hai mươi tuổi, người ta đã mua bánh chưng ngoài chợ.
– Chị. – Chiểu nói. – Tiền chị trả em, em để dành được bốn trăm rồi.
– Để làm gì?
– Mua cho u cái áo len. Áo u thủng hai chỗ rồi.
Nhã nhìn thằng bé. Nó cời lửa, không nhìn cô.
– Em đừng nói với u là tiền của chị.
– Tại sao?
– Thì cứ nói là tiền của em. Em làm ra mà.
Nó gật, rồi lại cời lửa.
Giao thừa, cả thị trấn đốt pháo.
Mười hai giờ đêm, như có một hiệu lệnh, tiếng pháo nổ ran từ đầu cầu sắt đến tận chợ. Pháo đùng, pháo tép, pháo tràng. Khói trắng mù mịt cả con đường đá dăm, mùi thuốc pháo khét lẹt. Bố Phác treo một tràng pháo dài từ mái hiên xuống, Chiểu châm ngòi, cả nhà đứng trong nhà bịt tai nhìn ra. Xác pháo đỏ bay vào tận bậc cửa.
Nhã đứng sau lưng bà Nhàn, nhìn tràng pháo nổ. Cô chưa nghe tiếng pháo Tết từ năm lên chín. Ở thời của cô, pháo đã bị cấm từ lâu. Tiếng nổ ở đây gần, thật, giật cả lồng ngực, và cô thấy mình đang cười như một đứa trẻ.
Bà Nhàn ngoảnh lại nhìn cô.
– Mày cười gì thế?
– Pháo to quá u ạ.
– Năm nào chả to. – Bà Nhàn nói, nhưng bà cũng cười.
Sáng mồng Một, bà Hĩm là người xông đất. Bà cụ chống gậy đến từ sáng sớm, mặc cái áo the đen cũ, cầm một cành lộc đa và một gói chè.
– Bà tuổi Tuất, hợp với nhà Phác lắm, ấy đấy. Năm nay nhà này làm ăn khấm khá.
Bà Nhàn mời bà cụ ngồi, pha trà, bày mứt. Chiểu được bà cụ mừng tuổi năm đồng, gói trong giấy đỏ. Nhã cũng được năm đồng. Cô cầm cái phong bao đỏ, nghĩ đến tờ năm đồng màu nâu bên trong, nghĩ đến cái phong bì hai nghìn đồng vẫn nằm trong đáy hòm quần áo.
Chiều mồng Một, Toản đến chúc Tết. Anh ta mang một gói bánh khảo, hai quả bưởi, ngồi uống rượu với bố Phác. Bố Phác hỏi chuyện đi Tiệp. Toản bảo giấy tờ đã xong, chờ ngày đi thôi, tháng Ba thì phải.
– Tháng Ba à? – Nhã hỏi.
Toản liếc cô một cái rất nhanh.
– Ừ. Đợt tháng Ba.
– Thế thì sắp rồi.
– Sắp rồi.
Anh ta nâng chén rượu lên với bố Phác, uống cạn. Nhã thấy bố Phác cũng uống cạn, rồi cúi xuống rót tiếp, không nhìn ai.
Mồng bốn Tết, hiệu ảnh mở cửa lại. Mồng năm, khách đến chụp ảnh đầu năm, phần lớn là những gia đình ăn mặc chỉnh tề, áo dài, áo len mới, đứng thành hàng trước phông vẽ hồ nước. Nhã chụp, in, tô màu, dập dấu. Vòng tròn khuyết.
Có một nhà sáu người từ Tân Hưng xuống, ông bố mặc bộ ka ki mới may, bà mẹ áo nhung đỏ, bốn đứa con xếp từ lớn đến bé như bậc thang. Đứa út hai tuổi khóc thét lên khi bố Phác chui vào dưới tấm khăn đen của máy hòm gỗ, vì tưởng có con ma. Chiểu phải đứng sau lưng bố, cầm cái chuông đồng lắc leng keng, làm mặt khỉ. Đứa bé nín, há mồm nhìn. Tách. Ảnh ấy về sau là tấm đẹp nhất trong ngày: cả nhà đều đang cười vì thằng Chiểu, chỉ có đứa út là mắt tròn xoe, miệng chữ O.
Nhã dập dấu vào góc tấm ảnh ấy, rồi đứng nhìn cái vòng khuyết lâu hơn một chút. Mai kia, nếu tấm ảnh này còn đến năm 2026, sẽ có một người thợ nào đó nhìn vào cái vết sứt mà không biết nó từ đâu ra.
Tối mồng năm, sau khi cả nhà đi ngủ, cô mở tủ phim.
Tủ phim là một cái tủ gỗ cao đến ngực, kê ở góc phòng chụp, có hai mươi tư cái ngăn kéo nhỏ, mỗi ngăn có một cái núm đồng. Mỗi ngăn là một tháng. Trên mặt ngăn có dán một mẩu giấy viết tay: tháng 1/87, tháng 2/87, cứ thế. Bên trong là những cái phong bì giấy pơ-luya, mỏng, trong, mỗi phong bì đựng một hoặc vài tấm phim âm bản. Trên mặt phong bì ghi tên khách, ngày chụp, loại ảnh. Bằng hai nét chữ. Một nét to, vụng, chữ in hoa, của bố Phác. Một nét nghiêng sang phải, chữ g có móc ngược.
Đây là nề nếp của nghề ảnh. Người ta giữ âm bản để khi khách cần in thêm thì in. Ở nhà, Nhã cũng có những hộp lưu trữ, chỉ là bằng ổ cứng. Cô biết, như mọi người làm nghề, rằng tủ phim là trí nhớ của một hiệu ảnh. Không ai đốt tủ phim của mình.
Cô mở ngăn tháng Mười Một năm tám bảy.
Có chừng ba chục phong bì. Cô lần lượt rút ra, đọc tên. Nguyễn Văn Thơ, xóm Đình, 6 ảnh thẻ. Đám cưới nhà Lương, Phú Lộc, 12 ảnh. Bé Hằng, đầy năm. Rồi một loạt phong bì ghi cùng một dòng: Xí nghiệp gạch, hồ sơ đi Tiệp. Sáu phong bì, sáu cái tên.
Phong bì thứ tư: Vũ Đình Toản. 14/11/87. 4 ảnh thẻ.
Cô rút tấm phim ra, đặt lên bàn sửa phim, bật đèn.
Bốn ô, bốn lần một khuôn mặt. Toản, tóc húi cua, sơ mi trắng, nhìn thẳng. Âm bản thì tóc trắng da đen, nhưng nét mặt vẫn rõ. Một đôi chân mày dày, đuôi xếch lên. Một sống mũi thẳng, cao. Và ở giữa cằm có một cái lõm nhỏ, như vết ai lấy ngón tay ấn vào.
Nhã lấy trong túi áo ra tấm phim nửa mặt, đặt bên cạnh.
Nửa mặt bên trái của chàng trai lạ. Chân mày dày, đuôi xếch. Sống mũi thẳng, cao. Cái lõm ở cằm.
Đó là mặt Toản.
Ai đó, bằng bàn tay trái của cô, đã ngồi ở bàn này và từng nét một, vẽ khuôn mặt của Toản lên mặt một người đàn ông khác.
Cô ngồi lặng rất lâu dưới ngọn đèn bàn sửa phim. Bên ngoài, gió bấc rít qua khe cửa.
Tại sao lại phải làm cho một người khác giống Toản? Một người lạ, tóc húi cua, mặt tròn hơn, mắt to hơn, trông trẻ hơn vài tuổi. Nếu đó là một người cần ảnh đẹp, người ta làm cho anh ta đẹp lên. Không ai làm cho một người giống hệt một người khác. Trừ khi...
Có tên rồi, lại bị gạch. Nghe đâu vì lý lịch.
Trừ khi người lạ ấy cần phải là Toản. Ở một chỗ nào đó, trên một tờ giấy nào đó, có tên Vũ Đình Toản. Và người cầm tờ giấy ấy đi sẽ không phải là Toản.
Nhã cất hai tấm phim lại. Tay cô run, cô phải đặt tấm phim của Toản vào phong bì đến lần thứ hai mới vào. Cô đóng ngăn kéo tháng Mười Một, rồi mở ngăn tháng Mười Hai, tháng Một năm tám tám, lục tìm những phong bì có chữ "hồ sơ". Có nhiều, rất nhiều. Đoàn Lạc Hòa mười ba tháng Mười Hai, bảy cái tên, có tên Kiều Văn Lành. Đoàn Phú Lộc, đoàn Tân Hưng. Nhưng không có thêm tấm phim nào bị vẽ lại.
Tấm phim nửa mặt là tấm duy nhất, và nó không nằm trong tủ. Nó bị giấu dưới đáy ngăn kéo bàn sửa phim, kẹp giữa hai tờ giấy bóng, như một việc làm dở bị ai đó bỏ lại vội vàng.
Hoặc như một thứ mà người làm dở nó định giữ lại.
Mồng sáu Tết, thứ Hai.
Cả ngày Nhã làm việc như người mộng du. Cô chụp, cô in, cô tô màu, cô dập dấu. Cô không nhìn Toản khi anh ta ghé qua buổi trưa, mang cho bà Nhàn một chục trứng vịt. Cô không nhìn bố Phác khi ông ngồi một mình ở quầy, gõ ngón tay lên mặt gỗ.
Tối hôm ấy, khi đã gần khuya, cô xuống nhà lấy nước. Cái cầu thang gác xép dốc và hẹp, chân cầu thang đặt trên nền gạch đỏ của buồng trong. Cô bước xuống bậc cuối, chân đặt lên viên gạch thứ ba tính từ chân cầu thang, và viên gạch kênh lên, kêu cạch một tiếng nhỏ.
Cô dừng lại.
Viên gạch ấy kênh. Cô đã bước lên nó hàng chục lần trong hai tháng qua mà không để ý. Có lẽ đã có lúc chân cô tự tránh nó, như chân cô tự co lại khi nghe chó sủa.
Chiểu đang ngủ trên phản ở gian ngoài, tiếng thở đều. Bố mẹ cô ngủ trong buồng, tấm rèm hoa buông kín. Nhã quỳ xuống, cạy mép viên gạch bằng đầu ngón tay. Nó lỏng, mạch vữa xung quanh đã bị ai cạo sạch từ lâu. Viên gạch nhấc lên dễ dàng.
Bên dưới là một cái hốc đất được khoét vuông vức. Trong hốc có một cái hộp sắt. Hộp bánh quy cũ, nắp in hình hoa hồng đã tróc sơn gần hết, hai bên mép có những vệt gỉ nâu.
Nhã nhấc cái hộp lên. Nó nặng hơn cô tưởng.
— Hết chương 8 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe