Chương 22: Ngõ có cây bàng
Trung úy Đoàn đếm phong bì bằng ngón trỏ tay trái, môi mấp máy không ra tiếng, và mỗi lần đếm xong một cái, anh ta lại gạch một vạch vào cuốn sổ tay bìa nhựa.
Ba mươi bảy vạch. Đúng như con số Nhã đã đếm hồi tháng Năm.
Anh ta không mở phong bì nào. Anh ta chỉ đọc tên ghi trên mặt, đọc ngày, chép lại, hỏi bố Phác chữ này là chữ ai, chữ kia là chữ ai. Bố Phác bảo chữ in hoa là chữ ông, chữ nghiêng là chữ con gái. Trung úy Đoàn gật, chép tiếp. Anh ta viết chậm, nét chữ to, tròn, như chữ một học trò cẩn thận.
– Ông Cẩn có hay đến hiệu nhà bác không?
– Có. Anh ấy dẫn khách đến chụp ảnh hồ sơ.
– Bác có vay mượn gì ông ấy không?
Bố Phác im một lúc. Ngón trỏ tay phải ông gõ xuống mặt bàn, một cái, rồi ông giấu tay xuống dưới bàn.
– Có. Hai cây vàng, tháng Ba năm ngoái.
Trung úy Đoàn chép. Anh ta không hỏi vay để làm gì. Anh ta quay sang Nhã.
– Trong đơn, bà Rạng có trình bày là chị Hồng có hứa "đợt tháng Sáu là đi". Chị Mơ ở Lạc Hòa cũng trình bày là chị Hồng bảo "cô lo được". Chị có nói những câu ấy không?
Nhã nhìn anh ta. Cô đã đoán trước câu hỏi này suốt đêm qua. Cô cũng đã đoán trước câu trả lời của mình.
– Có. Em có nói.
Anh ta ngẩng lên. Cái bút dừng trên mặt giấy.
– Chị nói theo ai?
– Theo ông Cẩn. Ông ấy bảo em nói thế.
Trung úy Đoàn nhìn cô thêm một lúc. Rồi anh ta chép câu ấy vào sổ, đọc lại cho cô nghe, hỏi có đúng không. Cô bảo đúng. Anh ta đưa cái bút cho cô ký vào dưới dòng ấy. Cô ký bằng tay trái.
– Hôm nay tôi chỉ hỏi thế. – Anh ta đứng dậy, gấp sổ. – Tôi còn phải mời ông Cẩn lên làm việc, mời các hộ trong đơn lên làm việc. Việc này có khi phải báo lên huyện. Đề nghị gia đình giữ nguyên cái tủ phim, không xê dịch, không cho ai mượn. Có việc gì thì lên trụ sở tìm tôi.
Anh ta đội mũ, chào, dắt xe ra mưa.
Bà Nhàn đứng ở cửa bếp suốt buổi, nghe hết. Khi cái bóng áo vàng đã khuất sau cầu sắt, bà mới quay vào, ngồi xuống cái ghế anh ta vừa ngồi.
– Thế là bắt đầu rồi. – Bà nói.
Nhã không biết bà nói cái gì bắt đầu. Cô cũng không hỏi.
Tuần sau, Mơ bế Bống đến.
Con bé đã đỡ ho. Má nó hồng hơn, tóc được buộc một cái nơ vải đỏ. Nó ngồi trên vai mẹ, tay cầm một củ khoai luộc, nhìn Nhã bằng đôi mắt đen láy.
– Nhà em đưa cháu lên huyện chụp phổi rồi, cô ạ. – Mơ nói. – Bằng tiền cô trả. Bác sĩ bảo lao sơ nhiễm. May mà đi sớm. Đi muộn mấy tháng nữa là lan. Trạm lao huyện phát thuốc không mất tiền, uống sáu tháng. Tháng nào cũng phải lên khám lại.
Nhã đứng sau quầy. Cô nghe chữ "lao" và thấy một thứ gì đó lạnh chạy dọc sống lưng mình.
Người ta phát hiện ra bệnh khi mẹ đã ho ra máu, đã sụt mười cân, đã không còn đứng nổi ở xưởng dệt.
– Cô làm sao thế? – Mơ hỏi.
– Không sao. – Cô nói. – Chị cứ cho cháu uống đủ thuốc. Đừng bỏ ngày nào.
Mơ gật. Chị ta đặt lên quầy một cái túi lưới, trong có mười quả trứng gà gói rơm.
– Nhà em không có gì. Cô nhận cho cháu.
Đêm ấy Nhã không ngủ. Cô nằm trên gác xép, nghe tiếng gió đầu đông lùa qua mái ngói, và cô đếm. Mẹ cô mất năm chín tư. Người ta bảo bệnh ủ trong người mẹ nhiều năm. Nếu phát hiện sớm, uống thuốc đủ, thì không chết. Thuốc trạm lao phát không mất tiền. Một chuyến xe khách xuống Hải Phòng. Ba chục cây số.
Cô đã sợ chuyến xe ấy suốt mười một tháng.
Sáng thứ Hai, mồng sáu tháng Mười âm lịch, Nhã dậy từ bốn giờ.
Trước khi đi, cô làm một việc. Cô cạy viên gạch kênh dưới chân cầu thang, nhấc cái hộp sắt lên. Trong hộp bây giờ không còn vàng. Chỉ có sáu tấm ảnh thẻ của Hồng, tấm ảnh hai người trên đê, cái phong bì giấy dầu đựng những bản in tiếp xúc cô làm hồi tháng Giêng, và tấm phim nửa mặt. Rồi cô vào phòng chụp, mở ngăn tháng Mười Một năm tám bảy, rút ra cái phong bì "Vũ Đình Toản, 14/11/87, 4 ảnh thẻ", lấy tấm phim bên trong ra, gói vào giấy bóng, bỏ vào hộp. Cái phong bì không, cô đặt lại đúng chỗ cũ.
Rồi cô ôm cái hộp ra gốc bàng.
Bà Hĩm đã dậy. Bà cụ đang ngồi trên chõng, quấn chăn, ngọn đèn dầu vặn nhỏ, đợi nước sôi.
– Bà giữ hộ cháu cái này mấy hôm. – Nhã nói. – Đừng mở. Đừng đưa cho ai, kể cả nhà cháu.
Bà cụ cầm cái hộp, lắc nhẹ. Bà không hỏi trong ấy có gì.
– Ấy đấy, bà có cái hòm dưới gầm chõng. – Bà nói. – Ban ngày bà ngồi trên nó, ban đêm bà nằm trên nó. Ai lấy được thì phải lấy cả bà.
Chuyến xe đi Hải Phòng chạy lúc năm giờ rưỡi. Nhã ngồi ở hàng ghế cuối, cái máy ảnh hai ống kính trong túi vải đặt trên đùi, một cuộn phim đen trắng mới nạp. Trong túi áo cô có tờ giấy ghi địa chỉ một cửa hàng ở gần cảng, nơi ông Hiển bảo có người bán phim màu của thủy thủ mang về, rẻ hơn Hà Nội. Đó là việc cô nói với bố mẹ. Đó cũng là việc cô làm xong trong một tiếng đầu tiên, đứng trong một gian nhà chật mùi dầu máy, mặc cả với một bà béo đeo hoa tai vàng.
Rồi cô đi bộ về phía khu tập thể.
Cô không cần hỏi đường. Cô đã lớn lên ở đây. Những con phố còn chưa có nhà cao tầng, xe đạp đi thành từng dòng, người bán hàng rong gánh trên vai, tiếng rao lơ lớ giọng biển. Cái chợ còn là chợ lợp mái lá. Cái rạp chiếu bóng ở góc phố còn đó, tấm biển vẽ tay một bộ phim cô không biết. Nhưng con đường thì vẫn là con đường ấy. Cô rẽ trái ở cái giếng nước công cộng. Cô đi qua hai dãy nhà bốn tầng tường quét vôi vàng đã loang lổ. Và ở đầu con ngõ thứ ba, cây bàng đứng đó.
Nó nhỏ hơn cô nhớ. Thân chưa to bằng một vòng tay. Lá đã ngả đỏ, rụng lác đác trên mặt ngõ.
Dưới gốc bàng, một người đàn bà trẻ đang ngồi giặt quần áo trong cái chậu nhôm, hai ống quần xắn lên đầu gối. Tóc chị ta quấn lên đỉnh đầu, xiên ngang bằng một chiếc đũa. Một đứa bé gái chừng ba tuổi ngồi trên bậc thềm, tóc tơ, mặc cái áo len đỏ cũ, đang nhặt những chiếc lá bàng xếp thành hàng.
Nhã dừng lại cách họ mười bước.
Cô đã phục chế hàng nghìn khuôn mặt. Cô đã nhìn những khuôn mặt sắp mất bằng kính lúp, đếm từng nếp nhăn, đo từng khoảng cách từ cánh mũi xuống môi. Cô biết mặt người ta khác đi thế nào qua năm tháng. Cô đã nghĩ, có lẽ cả đời rồi, rằng nếu được nhìn lại mẹ một lần, cô sẽ nhận ra ngay.
Cô nhận ra cái chiếc đũa trước.
– Chị tìm ai đấy? – Người đàn bà ngẩng lên, giọng Hải Phòng ráo hoảnh. – Đứng đấy nhìn mãi.
– Em... – Nhã nói, và không nói tiếp được.
Người đàn bà đứng dậy, chùi hai bàn tay ướt vào vạt áo. Chị ta hai mươi sáu tuổi. Má hồng vì lạnh. Hai cái răng cửa hơi chìa ra, khi cười thì lộ hết. Cái mũi hếch nhẹ. Cái nốt ruồi bên dưới cằm mà Nhã đã quên, quên hoàn toàn, cho đến lúc này.
– Chị đi đâu mà mang máy ảnh? Chụp dạo à?
– Vâng. – Nhã nói. Giọng cô khàn đi. – Em chụp dạo. Em ở trên Hải Hưng xuống. Em đang thử cái máy mới sửa, chị cho em chụp chị với cháu một kiểu. Em không lấy tiền.
– Không lấy tiền thì chụp đếch gì. – Người đàn bà cười to, cái tiếng cười Nhã nhớ, cái tiếng cười làm cả dãy hành lang khu tập thể ngoái lại. – Thôi được, chụp đi. Nhưng mà chị đang giặt, xấu như con ma.
– Chị không xấu.
Người đàn bà nhìn cô một cái, hơi lạ. Rồi chị ta cúi xuống bế đứa bé lên.
– Nhã ơi, cô chụp ảnh cho mẹ con mình này. Nhìn cô đi con.
Đứa bé quay sang. Nó nhìn Nhã bằng đôi mắt một mí, đen, ướt. Tay nó vẫn cầm chiếc lá bàng đỏ.
Nhã giơ máy lên. Cô cúi xuống nhìn vào ô ngắm trên đầu máy. Trong khung kính mờ, hai mẹ con hiện ra ngược phải trái, đứng dưới gốc bàng, nắng tháng Mười Một xiên qua tán lá ngả đỏ. Cô vặn núm lấy nét. Tay cô run. Cô phải dựa lưng vào bức tường vôi vàng cho khỏi run.
– Chị nghiêng đầu vào cháu một tí.
Người mẹ nghiêng đầu. Đứa bé, không ai bảo, áp má vào má mẹ.
Cô bấm.
Cô chụp thêm hai kiểu nữa, để phòng. Rồi cô hạ máy xuống, và đứng yên.
– Bao giờ có ảnh? – Người đàn bà hỏi.
– Em gửi xuống cho chị. Chị cho em xin tên.
– Mai Thị Thoa. Số nhà mười hai, tầng một, dãy C. Nhớ gửi đấy nhá, đừng có chụp xong rồi mất hút.
– Em nhớ.
Nhã ghi vào mặt sau tờ giấy địa chỉ. Chữ nghiêng sang phải, chữ g có móc ngược. Rồi cô ngẩng lên.
– Chị Thoa. Chị làm ở xưởng dệt phải không?
Người đàn bà ngạc nhiên.
– Sao biết?
– Tay chị có vết chai ở ngón trỏ. Thợ dệt hay thế. – Nhã nói, và đó là một câu cô bịa ra trong một hơi thở. – Em có người nhà làm xưởng dệt. Bụi bông nhiều lắm. Chị ạ, mỗi năm chị đi chụp phổi một lần nhé. Ho quá ba tuần thì đi ngay, đừng để. Trên chỗ em vừa có đứa bé lên năm bị lao, đi sớm nên khỏi. Thuốc nhà nước phát không mất tiền.
Thoa nhìn cô. Cái cười trên mặt chị ta tắt đi một chút, rồi lại sáng lên.
– Chị này lạ nhỉ. Chụp ảnh mà khuyên người ta đi khám phổi.
– Chị hứa với em đi.
– Ơ hay, hứa cái gì?
– Ho quá ba tuần thì đi khám.
Người đàn bà nhìn cô thêm một lúc. Có lẽ là cái giọng của Nhã. Có lẽ là đôi mắt Nhã, cô không biết đôi mắt mình lúc ấy trông thế nào. Thoa xốc đứa bé lên vai.
– Ừ thì hứa. – Chị ta nói, không cười nữa. – Mà sao chị khóc?
– Gió, chị ạ.
Thoa lấy vạt áo lau tay lần nữa, rồi đưa tay ra, chạm nhẹ vào cánh tay cô, như người ta chạm vào một người lạ đang đứng khóc giữa đường.
– Vào nhà uống cốc nước đã.
– Thôi chị. Em phải về kịp xe.
Đứa bé chìa chiếc lá bàng đỏ cho cô. Nhã cầm lấy.
Cô đi ra đầu ngõ, không quay lại. Đến cái giếng nước công cộng thì cô ngồi xuống bậc giếng, cầm chiếc lá bàng, và khóc như chưa bao giờ khóc từ năm chín tuổi.
Chuyến xe chiều về đến Bến Thượng lúc gần tối. Mặt đường bến xe còn đọng nước, ổ gà nào cũng sóng sánh, chiều nay ở đây vừa có một trận mưa rào trái mùa. Cô xuống bến, cái túi vải đựng máy ảnh, ba cuộn phim màu mua được, và chiếc lá bàng kẹp trong cuốn sổ. Đèn dầu đã thắp dọc dãy hàng quán. Cô đi bộ về nhà, qua cầu sắt, và từ đầu cầu đã thấy cửa hiệu sáng đèn, có bóng người đứng lố nhố ở hiên.
Hôm ấy cả nhà đi đám cưới ở Tân Hưng. Bố Phác chụp ảnh, bà Nhàn và Chiểu đi ăn cỗ, khóa cửa từ sáng. Họ vừa về trước cô một lúc.
Bà Nhàn đứng ở cửa sau, tay cầm cây đèn. Cánh cửa sau bị bẩy bật then, mép gỗ toác ra một vệt trắng. Viên gạch tổ Ba chặn chân cửa bị đá văng vào gốc rào.
– Có đứa vào nhà. – Bà nói. – Không mất gì. Tiền vẫn còn. Cái hộp bánh quy trong ngăn kéo quầy vẫn còn nguyên.
Nhã đi thẳng vào phòng chụp. Bố Phác đang đứng trước cái tủ phim. Ngăn tháng Mười Một năm tám bảy bị kéo tuột ra, nằm úp dưới nền gạch. Mấy chục cái phong bì giấy pơ-luya vương vãi khắp nơi, có cái bị giẫm, có cái bị xé toạc. Ngăn tháng Mười Hai cũng bị lục, ngăn tháng Một năm nay cũng vậy.
Nhã quỳ xuống, nhặt từng phong bì, đọc tên.
Nguyễn Văn Thơ, xóm Đình. Bé Hằng đầy năm. Xí nghiệp gạch, hồ sơ đi Tiệp. Năm cái phong bì có chữ ấy còn đó, phim vẫn trong.
Phong bì thứ sáu không còn. Cái phong bì không mà cô đã đặt lại đúng chỗ sáng nay, cái phong bì ghi "Vũ Đình Toản, 14/11/87, 4 ảnh thẻ", người ta đã lấy đi.
Ngoài cửa sau, dưới gốc bàng, ngọn đèn dầu của bà Hĩm vẫn còn leo lét, và bà cụ vẫn ngồi đó, trên cái hòm gỗ của mình.
— Hết chương 22 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe