Chương 32: Hai mươi ba tháng Chạp
Bố Phác về lúc sáu giờ sáng, khi trời vừa đủ sáng để thấy hai ống quần ông ướt sũng đến đầu gối, bùn đen bám dày ở gấu.
Ông không vào bằng cửa sau. Ông đi vòng ra phố, đứng ở hiên, gõ cửa trước như một người khách. Bà Nhàn mở cửa. Hai vợ chồng nhìn nhau một lúc, không ai nói gì. Rồi bà đứng tránh sang một bên cho ông vào.
Ông ngồi xuống cạnh bếp, hơ hai bàn tay tím tái trên lửa rơm. Bà Nhàn rót cho ông một bát nước chè nóng. Ông cầm bằng cả hai tay, uống từng ngụm nhỏ. Hai bàn tay ông run, nước chè sóng sánh.
Nhã đứng ở chân cầu thang, nhìn ông. Cô không hỏi ông đi đâu. Ông không nói.
Ông uống hết bát chè, đứng dậy, vào buồng thay quần. Khi ông đi ngang qua cô, cô ngửi thấy mùi bùn sông, mùi rêu, và một mùi khác, hăng, nhẹ, lẫn trong vải áo.
Cô chui vào cái kho dưới gầm cầu thang một lần nữa. Góc trong cùng vẫn trống. Cái can không quay lại.
Sáng hai mươi ba tháng Chạp, trời rét, không mưa. Mây xám kéo thấp, nặng, sương không tan.
Bà Nhàn treo tấm biển ở cửa hiệu từ sớm: "Ảnh màu Tết, mời quý khách lấy từ sáng 24 Chạp. Xin cảm ơn." Chữ của Nhã, nghiêng sang phải. Vậy mà khách vẫn đến, từng tốp, đứng ở hiên hỏi xem có lấy sớm được không. Nhã giao cho những nhà ở xa, những nhà có người ốm. Bà Nhàn ghi sổ.
Chín giờ, có hai người đàn ông đến hỏi ảnh. Một người chừng ba mươi, áo bông cũ, mũ len. Một người trẻ hơn, gầy, đi đôi dép nhựa. Họ đứng ở quầy, đưa cho bà Nhàn một mẩu giấy biên nhận, hỏi ảnh màu nhà ông Tư Đoài. Bà Nhàn nhìn mẩu giấy, gật, bảo hai anh vào trong ngồi đợi, ảnh còn đang xếp. Họ đi qua tấm rèm hoa, vào phòng chụp.
Họ không đi ra nữa.
Nhã thấy một người trong số họ ở cửa phòng chụp, lúc cô đi ngang qua lấy phong bì. Anh ta ngồi trên cái ghế khách chụp ảnh, trước tấm phông hồ sen, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn cô, gật đầu một cái rất nhẹ. Cô gật lại. Đến trưa, lúc cả ngõ đang ăn cơm, Trung úy Đoàn đi đường bờ sông, lách vào bằng cửa sau, mặc áo bông thường. Không ai để ý, trừ bà Hĩm.
Bà Hĩm ngồi ở chõng dưới gốc bàng từ sáng. Không có khách uống chè, bà vẫn ngồi. Lúc Nhã ra ngõ sau đổ nước, bà cụ gọi khẽ.
– Thằng Toản đạp qua ba lần rồi, ấy đấy. – Bà nói, không nhìn cô, nhìn cái ấm tích. – Lần nào cũng đạp chậm. Lần nào cũng không nhìn vào.
– Vâng.
– Bà ngồi đây. – Bà cụ nói. – Bà ngồi đến khi nào cháu về.
Gần trưa, bố Phác ra hiên dắt xe.
Ông buộc con gà trống ở đèo hàng, hai chân gà trói bằng lạt. Ông buộc đôi câu đối giấy hồng điều cuộn tròn vào ghi đông. Ông mặc cái áo bông, quàng cái khăn.
– Bố đi trước. – Ông nói. – Bố mang con gà về cho bà làm cỗ. Mấy mẹ con đi sau.
– Ông đi một mình à? – Bà Nhàn hỏi.
– Một mình.
Ông nhìn Nhã. Cái nhìn ấy dài hơn mọi lần. Rồi ông leo lên xe, đạp đi về phía cầu sắt, cái lưng gầy cúi xuống trên ghi đông, con gà kêu quang quác ở đèo hàng.
Hai giờ chiều, bà Nhàn khóa cửa trước.
Cái khóa đồng to, cái chìa bà đeo bằng sợi dây gai ở thắt lưng, như mọi năm bố Phác vẫn đeo. Bà khóa, giật thử hai lần. Cả dãy phố thấy. Ông giáo Lục đứng ở cửa nhà bên kia đường, tay cầm cái ấm tích, gọi sang:
– Bà Phác về quê đấy à?
– Vâng, về giỗ cụ nhà tôi.
– Ừ, đi cẩn thận. Cho tôi gửi lời thăm bà cụ.
Chiểu dắt cái xe cũ của nó ra, cái xô nhựa có nắp buộc ở đèo hàng, con cá chép quẫy bên trong. Nhã ngồi sau, ôm cái xô. Bà Nhàn đạp cái xe khung xanh của bố Phác, cái làn cói đựng xôi, đựng hoa quả treo ở ghi đông.
Họ đi qua cầu sắt.
Chiểu đạp chậm. Đến giữa cầu, ở chỗ những thanh thép giao nhau thành hình chữ X, thằng bé bỗng ngoái đầu nhìn xuống sông, cái xe chao đi một cái, Nhã phải ôm chặt cái xô cho khỏi đổ.
– Em làm gì thế?
– Không có gì.
Nhưng nó vẫn nhìn xuống. Nhã nhìn theo. Dưới chân cầu, chỗ bãi bồi có bụi tre và cái bến đất nhỏ của mấy nhà thuyền chài, nước sông mùa cạn trong và lặng. Trên mặt nước, gần bờ, có một vệt váng loang loáng, mỏng, ánh lên bảy màu dưới bầu trời xám, như vệt dầu người ta đổ khi rửa xe. Nó trôi chậm theo dòng, dài ra, mờ dần.
Chiểu quay mặt lại phía trước, đạp tiếp. Nó không nói gì. Đến cuối cầu, nó đạp nhanh hơn.
Nhã nhìn cái vệt bảy màu cho đến khi nó khuất sau trụ cầu.
Đường về Mộc Hạ vẫn là con đường đất đỏ chạy giữa hai cánh đồng. Đồng mùa đông đã cày ải, đất lật thành từng tảng nâu sẫm. Gió bấc thổi ngang. Người đi chợ Tết túm năm tụm ba, người gánh lá dong, người dắt lợn, người chở cành đào bọc bao tải. Một năm trước, cũng con đường này, cũng những người này. Chỉ có cô là đã khác.
Bà nội nằm trên cái chõng tre ở hiên, đắp chăn bông, vẫn lần tràng hạt gỗ. Bà ho nhiều. Khi Nhã quỳ xuống trước chõng, bà đưa hai bàn tay khô như lá chuối khô lên sờ mặt cô.
– Cái Hồng về rồi đấy à.
– Cháu đây bà.
– Ừ. Đủ rồi. – Bà nói, và buông tay. – Năm nay đủ rồi.
Bố Phác đã về đến từ trưa. Con gà đã làm thịt, đã luộc, đang nằm trên đĩa trong bếp. Đôi câu đối mới đã treo hai bên ban thờ. Ông đang đứng trước tấm ảnh ông nội, ông cụ đội khăn xếp, một tay đặt lên cái máy ảnh hòm gỗ.
Ông không nhìn Nhã khi cô vào. Ông đứng đó, hai tay buông dọc thân.
Họ làm cỗ. Họ cúng ông Táo và giỗ ông nội cùng lúc, lúc trời vừa nhá nhem. Bố Phác khấn. Lần này ông khấn to, trầm, chậm, đủ cho cả nhà nghe. Nhã nghe tên ông nội, nghe tên từng người trong nhà, nghe ông xin cho cái hiệu nhà con qua được cái Tết. Ông không khấn gì khác.
Chiểu và đám em họ mang con cá chép ra cái ao đầu làng thả. Nhã không đi theo.
Cô ngồi trong bếp, bên bà Nhàn và hai bà thím, gỡ thịt gà. Ánh lửa rơm bập bùng. Bên ngoài trời đã tối hẳn. Đêm hai mươi ba, không trăng.
Bà Nhàn đặt tay lên lưng cô. Một cái chạm rất nhẹ.
Nhã đứng dậy. Cô đưa tay lên ôm bụng, cúi gập người.
– U ơi. Con đau bụng.
Cô nghe giọng mình nói câu ấy. Nó vang lên trong căn bếp đất của nhà bà nội như một câu đã được nói ra từ rất lâu, ở một nơi rất xa, bằng một giọng khác. Chị tôi kêu đau bụng, ở lại trông nhà.
Hai bà thím xúm lại. Bà Nhàn đỡ lấy cô.
– Đau thế nào? Đau quặn à?
– Quặn lắm u.
– Thôi chết. Hôm trước cô Lài bảo nó có cái ruột thừa. – Bà Nhàn nói to, đủ cho cả nhà nghe, và Nhã biết cô Lài chưa bao giờ nói thế. – Để tôi đưa nó về trạm xá thị trấn. Đêm nay cô Lài trực.
Bố Phác đứng ở cửa bếp từ lúc nào.
– Để tôi đưa.
– Ông ở nhà. – Bà Nhàn nói. Giọng bà không to, nhưng cứng như cái then cửa. – Giỗ thầy ông mà ông bỏ về à? Bà ốm thế kia. Có tôi với nó là được.
Bố Phác nhìn bà. Rồi ông nhìn Nhã, đang cúi gập người trên cái ghế con, tay ôm bụng.
Ông nhìn rất lâu. Lâu đến mức một bà thím phải giục:
– Anh Phác, để chị ấy đưa nó đi cho nhanh.
Ông không nói gì. Ông quay vào nhà trên. Một lúc sau ông quay ra, tay cầm cái đèn bão, đưa cho bà Nhàn.
– Đường đê tối. – Ông nói. – Đi cẩn thận.
Bà Nhàn cầm cái đèn. Hai mẹ con dắt xe ra ngõ. Ở cuối ngõ, Nhã ngoái lại. Bố Phác vẫn đứng ở cổng nhà bà nội, cái bóng gầy in trên ánh lửa trong sân, không động đậy.
Họ đi đường đê, không đi đường đất đỏ. Đường đê xa hơn, vắng hơn. Bà Nhàn đạp trước, cái đèn bão treo ở ghi đông vặn nhỏ đến mức chỉ còn một đốm vàng. Nhã đạp sau, theo cái đốm vàng ấy. Hai bên là bóng đen của những bãi ngô, những luống cải, rồi đến dòng sông Thượng, đen như mực, chỉ ánh lên một chút ở những chỗ có sao.
Họ không nói với nhau một câu nào suốt bảy cây số.
Đến đầu cầu sắt, bà Nhàn tắt hẳn cái đèn bão. Hai mẹ con dắt xe đi bộ qua cầu trong bóng tối, chân dò từng tấm ván. Bên kia cầu, thị trấn đã lên đèn. Điện chưa về. Đèn dầu từng nhà hắt ra những vệt vàng lờ mờ trên con đường đá dăm.
Họ không đi đường phố. Họ đi men bờ sông, rẽ vào con ngõ sau.
Dưới gốc bàng, ngọn đèn dầu của bà Hĩm vặn nhỏ như hạt đỗ. Bà cụ ngồi trên chõng, quấn chăn, cái điếu cày dựng bên cạnh. Bà nhìn thấy họ, không đứng dậy.
– Về rồi à. – Bà nói, rất khẽ. – Ấy đấy, không ai vào ngõ. Chỉ có thằng Toản đạp qua đầu ngõ lúc chập tối, rồi đạp về phía lò.
Bà Nhàn dựng hai cái xe sau bụi dâm bụt, phủ một cái bao tải lên. Nhã đi đến cửa sau, gõ ba tiếng, nghỉ, gõ thêm hai tiếng.
Then cửa kéo ra từ bên trong. Cánh cửa hé. Một bàn tay kéo cô vào. Rồi bà Nhàn.
Cánh cửa đóng lại sau lưng họ. Then cửa cài.
Trong nhà tối như mực. Mùi xôi nguội, mùi hương, mùi giấy ảnh, mùi thuốc hãm. Trung úy Đoàn đứng ngay sau cửa, cô chỉ nhận ra anh ta bằng giọng nói.
– Chị với bác vào buồng trong. – Anh ta thì thầm. – Ngồi trên giường. Không ra. Dù có nghe thấy gì.
Hai mẹ con lần vào buồng trong, ngồi xuống mép cái giường tre. Tấm rèm hoa buông xuống trước mặt họ. Qua tấm rèm, Nhã không nhìn thấy gì. Chỉ nghe.
Cô nghe tiếng thở của ba người đàn ông ở đâu đó trong gian ngoài, trong phòng chụp. Cô nghe tiếng gió bấc rít qua những kẽ ngói. Cô nghe tiếng chó nhà ông giáo Lục sủa một hồi rồi im, và hai đầu gối cô co lại. Cô nghe tiếng thở của bà Nhàn bên cạnh, đều, chậm, như người đang đếm.
Bên kia đường, cái đồng hồ nhà ông giáo Lục đánh tám tiếng.
Rồi, rất lâu sau, chín tiếng.
Tiếng thứ chín vừa tắt thì có tiếng động ở cửa sau. Không phải tiếng gõ. Một tiếng rít khẽ của sắt lách vào khe gỗ. Rồi một tiếng nữa. Rồi tiếng then cửa bắt đầu kêu, từng nấc, từng nấc, như có ai đang bẩy nó ra bằng một thanh sắt dẹt rộng chừng hai đốt ngón tay.
— Hết chương 32 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe