Chương 18: Cái bao có miếng vá chỉ đỏ
Bà Nhàn lôi cái bao tải từ dưới đáy đống bao đựng than trong kho, giũ mạnh hai cái, bụi than đen bay mù mịt. Rồi bà trải nó ra trên nền gạch sân sau, như trải một tấm áo của người chết.
– Đây. – Bà nói.
Miếng vá vẫn còn nguyên ở góc đáy. Một mảnh bao gai khác màu, nhạt hơn, cắt vuông vức, khâu bằng chỉ đỏ. Mũi chỉ to, đều, mỗi mũi cách nhau đúng nửa đốt ngón tay.
– U khâu cái này hồi tháng Bảy năm ngoái. – Bà Nhàn ngồi xổm xuống, lấy ngón tay miết dọc đường chỉ. – Bao bị chuột cắn thủng. Chỉ đỏ là chỉ thừa của cái áo cưới con Hương nhà bên, nó cho u một cuộn. Cả cái Bến Thượng này không ai khâu bao bằng chỉ đỏ.
– Rồi u cho nhà anh Toản mượn.
– Tháng Chín. Mẹ nó sang bảo nhà hết bao, cần đong mấy thúng thóc mang lên xay. U đưa cái này. – Bà ngẩng lên. – Từ đấy đến sáng hôm mày ngạt than, u không thấy nó lần nào nữa. Sáng hôm ấy nó nằm trong cái lỗ thông hơi. U bảo gió thổi. U tin là gió thổi.
Bà đứng dậy, đi ra cửa sau, cúi xuống nhặt viên gạch đỏ đang chặn chân cánh cửa. Bà lật nó lên. Ba vết lõm nhỏ, xếp thành hàng, như vết ba đầu ngón tay.
– Còn cái này, u nhặt dưới chân tường, cùng với cái bao.
Hai mẹ con đứng nhìn viên gạch trong tay bà Nhàn.
Đã hơn hai tuần kể từ cái đêm Lành đập tủ kính. Ngần ấy ngày, bà Nhàn không nói thêm một lời nào về chuyện thằng Toản đứng dưới lỗ thông hơi. Bà vẫn dậy đồ xôi lúc bốn giờ, vẫn bán hàng, vẫn cãi nhau với bố Phác về giá gạo. Nhưng đêm nào Nhã vào buồng tối, bà cũng đứng ngoài rèm cho đến khi cô ra. Có đêm bà mang cái ghế đẩu ra ngồi, tựa lưng vào tường, ngủ gật ở đấy.
Bố Phác đã đi Lạc Hòa ba lần. Lần đầu ông mang trả cái đòn gánh. Lần thứ hai và thứ ba, ông không nói là đi đâu. Ông về, ngồi ở quầy, uống rượu, và trên tờ giấy bìa các tông kẹp ở cột hiên, chỗ bà Nhàn ghi nợ xôi, có thêm một hàng tên mới bằng chữ in hoa vụng về của ông. Kiều Văn Lành, năm chỉ, đã trả. Nhà bà Rạng, năm chỉ. Nhà ông Tư Đoài, bốn chỉ. Nhà anh Hiếu xóm Chùa, năm chỉ. Mười một cái tên. Chỉ có một cái tên có chữ "đã trả".
– Bố định làm gì với cái tờ bìa ấy? – Nhã hỏi ông một tối.
– Không làm gì. – Ông nói. – Để nhớ.
Nhã cầm cái bao, gấp lại làm tư, đúng như cách cô đã thấy nó nằm trong lỗ thông hơi. Gấp làm tư thì vừa khít một cái lỗ vuông một gang tay. Cô đưa nó cho bà Nhàn.
– U cất đi. Đừng cho ai đụng vào.
– Cất làm gì?
– Để nhớ, u ạ.
Bà Nhàn nhìn cô. Rồi bà cầm cái bao vào buồng, nhét vào đáy cái hòm gỗ đựng chăn màn. Còn viên gạch thì bà đặt lại đúng chỗ cũ, chặn chân cánh cửa sau, như mọi ngày.
– Để đấy. – Bà nói. – Để đấy thì không ai để ý.
Chiều hôm ấy Nhã ra gốc bàng.
Bà Hĩm đang ngồi trên chõng, quạt nan phe phẩy. Tháng Bảy âm lịch, trời đã bớt nóng, nhưng buổi chiều vẫn oi, mây xám vần vũ ở phía tây báo hiệu cơn mưa rào. Không có khách. Ấm tích nước chè nằm trong cái giỏ ủ bằng rơm.
Nhã ngồi xuống cái ghế con đối diện bà cụ.
– Bà ơi. Hôm trước bà bảo bà thấy nhiều thứ.
Bà Hĩm ngừng quạt.
– Ừ.
– Đêm rằm tháng Mười năm ngoái, đêm cháu ngạt than, bà có thấy gì không?
Bà cụ không trả lời ngay. Bà cầm cái ấm tích, rót ra một chén chè, đẩy sang cho cô. Rồi bà rót cho mình một chén, nhấp một ngụm.
– Bà chờ cháu hỏi câu này lâu lắm rồi. – Bà nói. – Ấy đấy, bà nghĩ cháu không hỏi thì bà không nói. Người già hay nói thì người ta bảo lẩm cẩm.
Bà đặt chén xuống.
– Đêm ấy trăng sáng như ban ngày. Bà ngồi đây, mất ngủ, như mọi đêm. Lúc ấy chừng mười một rưỡi, vì cái đồng hồ nhà ông giáo Lục bên kia đường vừa đánh một tiếng. Bà thấy thằng Toản dắt xe đạp vào ngõ sau nhà cháu. Không đạp, dắt. Đèn xe không bật. Trên cái giỏ xe có mấy viên gạch với một cái bao.
– Rồi sao hả bà?
– Nó dựng xe ở bờ rào. Nó đứng dưới cái lỗ thông hơi một lúc. Bà không thấy nó làm gì, vì cái bóng cây dâm bụt che. Chừng mười lăm phút thì nó dắt xe ra. Trên giỏ còn mấy viên gạch, không còn cái bao.
Bà Hĩm nhìn cô.
– Bà tưởng nó đến hẹn hò với cháu. Trai gái ấy mà. Nên bà không nói với ai. Sáng hôm sau mẹ cháu gào, bà chạy sang, thấy cái bao trong tay mẹ cháu, bà mới nghĩ. Nghĩ thế thôi. Bà già mất ngủ, nhìn trăng, thấy một thằng dắt xe đạp, ai tin.
– Cháu tin.
Bà cụ gật đầu. Bà cầm cái quạt nan lên, phe phẩy.
– Bà nói cho cháu một câu này. Ấy đấy, thằng ấy sáng hôm sau đến sớm nhất. Bà thấy nó đứng ở đầu ngõ từ lúc sáu giờ, đợi đến bảy giờ mới vào. Đứng một tiếng.
Nhã nhớ lại buổi sáng ấy. Cái xe đạp khung xanh, cái giỏ sắt dính bụi gạch, hai quả quýt lạnh. Em có nhớ gì không.
Cô đã tự nhủ, cái đêm mở hộp sắt dưới ngọn đèn dầu, rằng một người đã làm điều đó sẽ không đạp xe đến ngay sáng hôm sau. Cô đã sai. Một người đã làm điều đó sẽ đến. Sẽ đến để biết.
Chủ nhật, mười bảy tháng Bảy, Nhã sang xí nghiệp gạch.
Cô đi bộ qua cầu sắt, men theo con đê bên kia sông. Nước sông tháng Bảy lên cao, đục ngầu, cuốn theo bèo và rác. Trên bãi phơi, gạch mộc xếp thành những bức tường dài, hàng nghìn viên, phủ rơm để khỏi ướt mưa. Cái ống khói lò gạch cao vút, nhả khói xám. Mùi đất nung, mùi than, mùi rơm ẩm.
Chủ nhật, xí nghiệp nghỉ, chỉ còn tổ đốt lò làm ca. Cổng mở. Một ông già gác cổng ngồi trong cái chòi lá, ngủ gật. Nhã đi qua, không ai hỏi.
Cô đi dọc bãi phơi. Những viên gạch mộc xám nâu, xếp so le, có khe hở để gió lùa cho khô. Cô cúi xuống, nhấc một viên ở hàng dưới cùng, lật lên.
Mặt dưới không có gì. Phẳng.
Cô nhấc một viên khác. Cũng phẳng. Viên thứ ba, thứ tư. Phẳng cả.
Cô đi sang dãy bên kia, chỗ người ta xếp gạch đã nung, gạch đỏ au, chờ xe chở đi. Có những chồng gạch cao ngang ngực, mỗi chồng gắn một mảnh gỗ con ghi tên tổ. Tổ Một, tổ Hai, tổ Ba. Cô lật viên gạch đầu tiên của chồng tổ Ba.
Ba vết lõm, xếp thành hàng.
– Cô tìm gì đấy? – Một giọng đàn ông hỏi.
Cô giật mình quay lại. Một ông trạc năm mươi, cởi trần, quần đùi, vai vác một tấm phên tre, đang nhìn cô.
– Cháu xem gạch bác ạ. Nhà cháu định mua.
– À. – Ông đặt tấm phên xuống. – Gạch tổ Ba là gạch đóng tay đấy, cô ạ. Tổ ấy toàn người già, không chịu đóng máy. Đóng xong ai cũng ấn ba ngón tay vào mặt dưới, gọi là dấu tổ, để lúc xếp lò không lẫn với tổ khác. Gạch tốt, đặc, nặng. Có điều xí nghiệp chỉ bán cho công nhân với cơ quan, cô muốn mua thì phải có người trong này đứng tên.
– Ai trong này cũng lấy được gạch tổ Ba à bác?
– Lấy được chứ. Công nhân hay lấy mấy viên về kê chân giường, chặn cửa. – Ông cười. – Cô quen ai trong này?
– Anh Toản tổ đốt lò ạ.
– À, thằng Toản. – Ông gật gù. – Nhà nó ngay sau dãy lán kia. Mẹ nó ốm, cô vào mà hỏi.
Nhà Toản là một gian nhà tranh vách đất ở cuối dãy lán công nhân, sát chân đê. Trước cửa có một cái chum nước, một giàn mướp, mấy luống rau muống. Cửa mở.
Một người đàn bà nằm trên cái giường tre kê sát cửa sổ. Bà chừng năm mươi, gầy rộc, da vàng, tóc thưa. Bên cạnh giường là một cái ghế đẩu đặt bát thuốc bắc đã nguội và một cái quạt nan. Trên vách có treo một cái khăn len đỏ đan dở, cuộn len và hai cây kim tre cắm ở đầu.
– Ai đấy? – Bà hỏi, giọng yếu.
– Cháu là Hồng, bác ạ. Con nhà bác Phác hiệu ảnh.
– À, cái Hồng. – Bà chống tay ngồi dậy, rồi lại ngã xuống. – Ngồi đi cháu. Thằng Toản nó đi lò. Cháu khỏe chưa? Nó bảo cháu ngạt than.
– Cháu khỏe rồi ạ. Cháu cảm ơn bác cái khăn len.
Bà mỉm cười, chỉ lên vách.
– Bác đan thêm một cái nữa. Đan mãi không xong. Tay run.
Nhã ngồi xuống mép giường, cạnh cái ghế đẩu đặt bát thuốc. Trên vách đất, cạnh cái khăn len đan dở, có treo một tấm ảnh lồng khung gỗ. Một người đàn ông gầy, mặc áo bộ đội cũ, ngồi trên ghế, sau lưng là tấm phông vẽ hồ nước có cây liễu rủ. Góc dưới bên phải có một vòng dấu nổi. Vòng liền.
– Bố thằng Toản đấy. – Bà mẹ nói, theo mắt cô. – Chụp ở hiệu nhà cháu, năm tám mốt, trước khi ông ấy mất. Thằng Toản bảo sau này có tiền, nó mở cái lò gạch riêng, đặt tên theo bố nó. Nó bảo bây giờ nhà nước cho làm riêng rồi, chỉ cần có vốn.
Cô nói chuyện với bà một lúc, về bệnh của bà, về giá thuốc, về con mèo nhà hàng xóm hay sang bắt chuột. Rồi cô hỏi, như hỏi một chuyện vặt:
– Hồi tháng Chín năm ngoái, u cháu cho bác mượn cái bao tải đong thóc, bác còn nhớ không ạ? Cái bao có miếng vá chỉ đỏ ấy. U cháu bảo hỏi xem bác còn dùng không.
Người đàn bà nghĩ một lúc.
– Cái bao chỉ đỏ. – Bà nói. – Bác nhớ. Thằng Toản nó mang trả nhà cháu rồi mà. Hồi rằm tháng Mười. Hôm ấy nó bảo sang nhà cháu, tiện mang trả cái bao. Nó bỏ cái bao vào giỏ xe mang đi. Mẹ cháu không nhận được à?
Nhã ngồi im.
Ngoài cửa, có tiếng bước chân trên con đường đất. Một cái bóng đổ dài qua ngưỡng cửa, che mất vệt nắng chiều.
– Em tìm gì ở đây thế, Hồng?
Toản đứng ở cửa, cái áo ka ki màu cỏ úa ướt đẫm mồ hôi, mặt lấm lem bụi than, hai bàn tay đen sì. Anh ta cười. Cái cười hiền, như mọi khi.
— Hết chương 18 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe