Chương 36: Góc ảnh năm 2026
– Mẹ ơi, có người tìm mẹ. Hai ông bà ở Bến Thượng.
Nhã nói vọng vào trong nhà, tay vẫn cầm cái chổi đang quét lá bàng ngoài sân. Sáng Chủ nhật đầu tháng Mười Hai, trời hanh, gió mùa đã về từ đêm thứ Sáu. Cây bàng trước cửa đã đỏ gần hết lá, rụng kín mặt ngõ, quét lúc tám giờ thì mười giờ lại đầy.
Cái cây ấy bây giờ to hơn một vòng tay người lớn. Khu tập thể bốn tầng đã phá đi từ mười năm trước, thay bằng mấy dãy nhà liền kề ba tầng, nhưng người ta để lại cái cây, vì cả ngõ ký đơn xin giữ. Mẹ cô là người ký đầu tiên.
Hai ông bà đứng ở đầu ngõ, cạnh cái xe máy cũ. Ông chừng ngoài năm mươi, người to, tóc đã hoa râm, mặc cái áo khoác dày, đội cái mũ bảo hiểm cũ còn chưa tháo quai. Bà thì già hơn, gầy, tóc bạc gần hết, búi thấp sau gáy, mặc áo bông màu nâu, tay ôm một cái phong bì giấy cứng trước ngực, như người ta ôm một cái gì dễ vỡ.
– Cô là Lại Thanh Nhã? – Ông hỏi.
– Vâng ạ.
Ông quay sang nhìn bà. Bà không nói gì. Bà đứng nhìn Nhã rất lâu, lâu đến mức Nhã thấy ngượng, đưa tay lên gạt mấy sợi tóc bị gió thổi xõa xuống trán.
– Hai bác vào nhà đã. – Cô nói. – Gió lắm.
Mẹ cô ra đến cửa thì dừng lại.
Bà Thoa năm nay sáu mươi tư tuổi. Tóc bà vẫn quấn lên đỉnh đầu, xiên ngang bằng một chiếc đũa, cái thói quen từ hồi còn làm ca ở xưởng dệt. Bà vẫn nói giọng Hải Phòng ráo hoảnh, vẫn cười to cái tiếng cười làm cả ngõ ngoái lại. Bà đã về hưu được mười năm, vẫn đi tập thể dục ở công viên mỗi sáng, vẫn cãi nhau với bà hàng cá ở chợ đầu ngõ. Mỗi năm vào tháng Mười một, bà đi chụp phổi một lần. Ba mươi tư năm, chưa bỏ năm nào.
Bà đứng ở bậc cửa, nhìn người đàn bà tóc bạc ôm cái phong bì.
– Chị ở đâu đến? – Bà hỏi.
– Bến Thượng, chị ạ. – Người đàn bà nói. Giọng bà nhỏ, hơi khàn, nhưng rõ từng chữ. – Tôi tên Hồng. Đây là em trai tôi, Chiểu. Nhà tôi có hiệu ảnh ở trên ấy.
Họ ngồi ở phòng khách, cái phòng nhỏ có bộ bàn ghế gỗ, cái tủ kính bày bát đĩa, và một bức tranh sơn dầu vẽ cây bàng mà Nhã vẽ hồi năm thứ hai đại học. Cô dạy mỹ thuật ở một trường trung học cơ sở cách nhà hai cây số đã mười sáu năm. Cô chưa lấy chồng. Cô ở với mẹ và một con mèo mướp tên Mướp, con mèo đang nằm cuộn tròn trên nóc cái tủ kính, mở một mắt nhìn khách rồi lại nhắm.
Bà Thoa pha trà. Ông Chiểu ngồi trên cái ghế gỗ, hai bàn tay to bè đặt trên đầu gối. Móng tay ông có những vệt đen nhỏ, không phải bùn, không phải dầu, mà là thứ vết ố mà chỉ người làm thuốc ảnh lâu năm mới có. Ông nhìn quanh phòng khách, nhìn bức tranh cây bàng, nhìn con mèo.
– Cô vẽ à? – Ông hỏi Nhã.
– Vâng.
– Đẹp. – Ông nói, rồi quay sang bà chị, như để báo một điều gì.
Bà Hồng đặt cái phong bì giấy cứng lên mặt bàn. Bà mở nó ra, chậm, từng góc, như người ta mở một lá thư cũ sợ rách. Rồi bà rút ra một tấm ảnh.
Ảnh đen trắng, khổ chín nhân mười hai, giấy mới, mặt bóng. Dưới một gốc bàng còn nhỏ, chưa to bằng một vòng tay, một người đàn bà trẻ bế một đứa bé gái chừng ba tuổi. Hai ống quần chị xắn lên đầu gối, tóc quấn lên đỉnh đầu bằng một chiếc đũa. Đứa bé áp má vào má mẹ. Tay nó cầm một chiếc lá bàng.
Bà Thoa đặt ấm trà xuống bàn. Nắp ấm kêu cạch.
– Ối giời ơi.
Bà cầm tấm ảnh lên bằng cả hai tay. Bà đưa nó ra gần cửa sổ, chỗ sáng. Rồi bà ngồi phịch xuống ghế.
– Đây là… đây là tôi. Tôi với con Nhã. Ngay dưới gốc bàng này. – Bà quay sang nhìn người đàn bà tóc bạc. – Cái hồi có cô thợ ảnh ở đâu về chụp dạo. Năm… năm tám tám. Cô ấy bảo gửi xuống cho tôi. Cô ấy gửi thật. Tôi giữ mãi. Đến năm chín sáu thì lụt, nước biển vào tận đây, tầng một ngập ba ngày. Mất hết. Mất sạch ảnh. Con Nhã không còn một cái ảnh nào hồi bé.
Bà nói nhanh, giọng run, cái giọng Hải Phòng vỡ ra từng mảng.
Nhã ngồi xuống cạnh mẹ. Cô cầm lấy tấm ảnh từ tay mẹ.
Cô chưa bao giờ thấy mặt mình lúc ba tuổi. Cô đã nghe mẹ tả, nhiều lần, như người ta tả một người họ hàng ở xa. Tóc tơ, mắt một mí, cái áo len đỏ cũ. Bây giờ đứa bé ấy nằm trong lòng bàn tay cô, áp má vào má mẹ, nhìn thẳng vào ống kính bằng đôi mắt đen ướt, như đang nhìn một người lạ đang đứng khóc giữa ngõ.
Cô lật tấm ảnh lại.
Ở mặt sau, bằng bút chì, là một dòng chữ nghiêng sang phải. Chữ g có cái móc đuôi cong ngược lên.
"Ngõ cây bàng, tháng Mười năm Mậu Thìn. Chị Thoa và bé Nhã."
– Tôi giữ cái phim. – Bà Hồng nói. – Tôi in lại.
Bà Thoa nhìn bà. Rất lâu. Rồi bà đưa tay ra, chạm vào cánh tay người đàn bà tóc bạc, như người ta chạm vào một người lạ đang ngồi khóc trong nhà mình.
– Cô ấy bảo tôi đi chụp phổi. – Bà Thoa nói. – Cô thợ ảnh ấy. Cô ấy bắt tôi hứa. Ho quá ba tuần thì đi. Tôi cười. Tôi bảo chụp ảnh mà khuyên người ta đi khám phổi. Thế mà năm chín hai tôi ho, tôi nhớ, tôi đi. Lao. Bác sĩ bảo may phát hiện sớm. Uống thuốc một năm. Thế mà sống đến giờ.
Bà ngừng lại. Bà nhìn khuôn mặt nhăn nheo trước mặt, cái mũi hơi hếch, cái nốt ruồi nhỏ dưới đuôi mày trái.
– Chị… – Bà nói. – Chị có phải là cô ấy không?
Bà Hồng không trả lời. Bà chỉ cười. Một nụ cười không phải nụ cười chụp ảnh, mà là nụ cười của người vừa bị ai trêu.
Ông Chiểu ngồi nhìn hai người đàn bà. Rồi ông quay sang Nhã, chìa tay chỉ vào góc dưới bên phải tấm ảnh.
– Cô sờ thử cái góc này xem.
Nhã đưa ngón tay lên góc ảnh. Có một vòng tròn nổi gồ lên mặt giấy, cỡ đồng xu lớn, chạy vòng là một hàng chữ in nổi không mực. Cô nghiêng tấm ảnh ra chỗ sáng cửa sổ. Hàng chữ hiện lên: ẢNH PHÁC · BẾN THƯỢNG.
Ngay trên chữ G của chữ THƯỢNG, vành nổi bị khuyết một vệt nhỏ, như có ai cắn mất một miếng.
– Chỗ này bị sứt ạ?
Ông Chiểu bật cười.
– Tại tôi. Tôi nghịch, đánh rơi xuống nền gạch. Đúng hôm chị tôi vừa khỏi ngạt, cả nhà còn đang rối. Bố tôi tát tôi một cái nổ đom đóm mắt. – Ông đưa tay lên sờ má trái. – Cái kìm ấy bây giờ vẫn còn. Ảnh nào ra khỏi hiệu nhà tôi vẫn có cái vết ấy. Gần bốn mươi năm nay.
Bà Thoa đã đi xuống bếp lấy thêm nước sôi, hai mắt đỏ hoe, vừa đi vừa lẩm bẩm "ối giời ơi" như người vừa trúng số. Con Mướp nhảy xuống khỏi nóc tủ, đi một vòng quanh chân khách, rồi dừng lại trước chân bà Hồng, cọ đầu vào mắt cá chân bà.
Bà Hồng cúi xuống, đưa bàn tay trái ra vuốt lưng con mèo. Trên mu bàn tay ấy có hai vết sẹo bỏng nằm cạnh nhau. Một vết cũ, bóng và nhăn như vỏ hành. Một vết nhỏ hơn, tròn, to bằng đồng xu.
– Cô có con mèo đẹp quá. – Bà nói.
– Mẹ cháu nhặt về đấy bác. – Nhã nói. – Cháu định đặt tên khác, mà mẹ cháu cứ gọi Mướp, rồi nó chỉ nghe tên ấy.
Bà Hồng gật. Bà vuốt con mèo thêm một lúc, rồi ngẩng lên nhìn Nhã. Cái nhìn ấy lại dài, rất dài, như cái nhìn của người thợ soi một tấm phim cũ dưới kính lúp, cố tìm cho ra cái chỗ nào khác.
– Cô ngủ có ngon không? – Bà hỏi.
Nhã ngạc nhiên.
– Dạ?
– Đêm rằm tháng Chín vừa rồi. – Bà nói. – Cô có thức khuya không?
Nhã nghĩ một lúc. Rằm tháng Chín. Cuối tháng Mười dương lịch. Cô không nhớ. Một đêm thứ Bảy nào đó, chấm xong bài cho học sinh, đi ngủ sớm.
– Cháu ngủ say như chết bác ạ. – Cô cười. – Cháu chẳng bao giờ thức được quá mười một giờ.
Bà Hồng nhìn cô thêm một lúc. Rồi bà thở ra, một hơi dài, chậm, như người vừa đặt xuống một thùng nước đã xách rất lâu.
– Thế thì tốt. – Bà nói.
Họ ngồi đến trưa. Bà Thoa nhất định giữ lại ăn cơm. Ông Chiểu kể chuyện hiệu ảnh ở Bến Thượng, bây giờ là một cái nhà ba tầng ở phường Bến Thượng, vẫn tên Ảnh Phác. Tầng dưới bày một cái máy ảnh hòm gỗ cũ trong tủ kính, không bán, ai hỏi cũng không bán. Người ta mang ảnh cũ từ khắp nơi đến nhờ phục chế. Chị ông làm, ông phụ, con trai ông học nghề. Bà Thoa hỏi thăm ông bà cụ. Ông Chiểu bảo bố ông mất năm hai nghìn lẻ ba, ở nhà, ngồi trên cái ghế đẩu cạnh cái máy hòm, tay còn cầm miếng da lau ống kính. Mẹ ông mất năm ngoái, tám mươi lăm tuổi, trước hôm mất còn đòi dậy đồ xôi. Ông kể bằng một giọng chậm, hay ngừng, nhưng không buồn, như người kể về những tấm ảnh đã được treo đúng chỗ. Bà Hồng ăn ít, nói ít. Bà chỉ ngồi nhìn bà Thoa cười, nhìn Nhã gắp thức ăn cho mẹ, nhìn con mèo nằm phơi nắng trên bậu cửa sổ.
Lúc về, ông Chiểu đội lại cái mũ bảo hiểm cũ. Bà Hồng ngồi sau xe, hai tay ôm cái phong bì giấy cứng đã rỗng.
Nhã ra tiễn ở đầu ngõ, cái chổi vẫn còn dựng ở gốc bàng.
– Bác ơi. – Cô gọi. – Bác in thêm cho cháu một tấm được không ạ? Cháu muốn treo một tấm ở trường, cho học sinh xem ảnh thời xưa.
Bà Hồng quay lại. Gió mùa thổi tung mấy sợi tóc bạc khỏi cái búi thấp sau gáy.
– Được. – Bà nói. – Cô đừng làm cho nó đẹp hơn ngày xưa nhé. Chỉ cần giống thôi.
Cái xe máy nổ máy, chạy chậm ra khỏi ngõ, qua cái giếng nước công cộng bây giờ đã thành một bồn hoa, rồi khuất sau dãy nhà liền kề. Nhã đứng dưới gốc bàng, tấm ảnh trong tay, lá bàng đỏ rơi lả tả xuống vai.
Cô đưa ngón tay chạm vào cái vòng tròn nổi ở góc ảnh. Chỗ vết sứt, ngay trên chữ G.
Ấm.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe