Chương 21: Phim màu gửi lên Hà Nội
Tờ mười đồng mà Chiểu đặt lên mặt bàn quán bia hơi đã nhàu đến mức không còn phẳng được, và nó nằm đó giữa hai cốc bia như một miếng lá khô.
Nhã thấy cảnh ấy từ chỗ cô đứng, dưới dãy nhà tôn của bến xe, tay cầm cái gói ảnh thờ bọc giấy báo đợi gửi theo chuyến xe sáng thứ Hai. Cuối tháng Tám âm, trời đã se lạnh buổi sớm. Khói dầu từ mấy cái xe khách nổ máy cuộn trắng trong sương.
Ông Cẩn ngồi ở cái bàn trong cùng, cái bành tô ghi chưa mặc, chỉ khoác một cái áo len cổ lọ. Người ta bảo ông đi Hà Nội làm ăn từ trước Trung thu. Nhưng ông ngồi đây, sáng thứ Hai, ăn bát phở bò tái, và trước mặt ông là thằng em trai của cô.
– Cái gì đây? – Giọng ông Cẩn vọng ra, ấm, vui.
– Tiền chú mừng tuổi cháu hôm hai mươi tư Tết. – Chiểu nói. Nó đứng thẳng, hai tay buông dọc thân, như đứng trước bố. – Cháu trả chú. Cháu không đi Đức.
Ông Cẩn đặt đôi đũa xuống. Ông nhìn tờ mười đồng, rồi nhìn thằng bé.
– Ơ hay, thằng này. – Ông cười to. – Học đâu cái thói ấy?
– Học chị cháu.
Chiểu quay đi. Nó không nhìn ông Cẩn thêm lần nào, không nhìn những người đang ngồi uống bia buổi sớm, nó đi thẳng ra cột điện, dắt xe, đạp về phía chợ. Nó không thấy Nhã đứng dưới mái tôn. Hoặc nó thấy, và không quay lại.
Ông Cẩn ngồi im một lúc. Rồi ông cầm tờ mười đồng lên, gấp làm tư, nhét vào túi áo, và cầm đũa ăn tiếp.
Tối hôm ấy, ở buồng tối, Chiểu không nhắc gì đến chuyện ấy. Nó pha thuốc hiện, đổ nước phích vào chậu, chỉ nói những câu cần nói. Chỉ đến lúc tờ giấy ảnh đầu tiên hiện lên trong khay, nó mới hỏi, mắt không rời cái khay:
– Cái giấy nợ ấy bây giờ ở chỗ anh Toản hả chị?
– Ừ.
– Nếu chị lấy anh ấy thì không phải trả.
– Ừ.
– Thế chị có lấy không?
Nhã gắp tờ ảnh ra khỏi khay, thả sang chậu nước ngắt.
– Không.
Thằng bé gật. Nó không hỏi tại sao.
Tờ ảnh ấy là tấm ảnh Trung thu.
Cô đã để cuộn phim nằm trong hộp gần một tuần, không rửa. Cô biết trên cuộn phim ấy có gì. Có một lúc cô đã nghĩ đến chuyện để nó nằm đấy mãi. Rồi cô nghĩ đến ông Chiểu năm mươi tư tuổi, hai bàn tay dính vữa, đi xe máy ba chục cây số chỉ để ngồi xem cô làm. Ảnh nhà tôi còn mỗi tấm này.
Bây giờ, trong khay nước ngắt, dưới ánh đèn đỏ, bốn người đứng trước tấm phông hồ nước có cây liễu rủ. Ông bố cài cúc lên tận cổ. Bà mẹ cầm cái đèn ông sao. Thằng bé nheo mắt vì đèn, môi còn mím lại sau cú thọc sườn. Cô gái nghiêng về phía mẹ, cười như vừa bị ai trêu. Và ở mép phải, một khuỷu tay áo, miếng vá hình chữ nhật.
Nhã phơi nó lên dây, rồi đứng nhìn rất lâu.
– Chị cười đẹp nhất. – Chiểu nói, đứng bên cạnh. – Nhờ em đấy.
– Ừ. Nhờ em.
Sáng hôm sau, cô dập dấu vào góc tấm ảnh. Vòng tròn khuyết. Cô đưa cho bà Nhàn. Bà cầm lên, nhìn rất lâu, rồi đặt nó vào trong cái khung gỗ cũ trên bàn thờ, che lên tấm ảnh ông nội, rồi lại nghĩ thế nào lấy ra, dựng nó vào chân bát hương.
– Để đấy. – Bà nói. – Để đấy cho ông xem.
Nhã nhìn cái tay áo vá ở mép ảnh. Bà Nhàn không cắt nó đi. Bà không nhắc gì đến nó.
Việc ảnh màu bắt đầu từ con trai ông thuyền chài xóm Bãi.
Anh ta tên Sáng, con ông thuyền chài vẫn mang cá lên đổi ảnh hồi giáp hạt. Anh ta đi lao động ở bên Đức về được ba tháng. Anh ta mang theo một cái máy ảnh nhỏ bằng bàn tay và bốn cuộn phim màu ngoại đã chụp hết, cuộn trong cái túi ni lông như cuộn những thỏi vàng.
– Cả Bến Thượng không ai rửa được. – Anh ta nói, đặt túi phim lên quầy. – Hợp tác xã bảo phải gửi lên Hà Nội, mà gửi lên thì mất. Chị Hồng làm được không?
Nhã không rửa được phim màu. Không ai ở cái thị trấn này rửa được. Thuốc rửa phim màu cần nhiệt độ chính xác đến từng độ, cần thứ hóa chất mà cô chưa thấy bán ở đâu từ Hải Phòng đến Hà Nội. Nhưng cô biết ở Hà Nội có người rửa được. Ông Hiển đã nhắc đến một cái hiệu nhỏ ở một phố cổ gần chợ, chủ là một ông từng làm ở xưởng phim, chuyên rửa phim màu cho cán bộ đi nước ngoài về.
– Em không rửa được. – Cô nói. – Nhưng em gửi được. Em gửi qua người quen của nhà em ở Hà Nội, có giấy biên nhận, mười ngày có ảnh. Anh viết tên vào đây, em ghi ngày gửi.
Anh Sáng nhìn cô, nhìn cuốn sổ hẹn trả ảnh, nhìn cái vòng dấu nổi trên mấy tấm ảnh thẻ mẫu dán ở tường cạnh bảng giá.
– Chị ghi đi.
Cô gửi bốn cuộn phim theo chuyến xe sáng thứ Hai, kèm một lá thư cho ông Hiển. Chuyến xe chiều thứ Năm tuần sau mang về một phong bì: bốn xấp ảnh màu, khổ chín nhân mười hai, màu hơi ngả đỏ như màu nắng chiều, và một mảnh giấy bằng nét chữ cổ của ông Hiển. "Cô em làm cái mối này được. Ông bạn tôi lấy giá phải chăng. Tôi đứng ra lo giấy biên nhận hai đầu."
Anh Sáng cầm xấp ảnh màu, đứng ở quầy, lật từng tấm. Ảnh anh ta đứng trước một nhà thờ có mái nhọn. Ảnh anh ta ngồi trong căn phòng ở ký túc xá công nhân với ba người Việt khác, trên bàn có một con gà quay. Ảnh tuyết. Anh ta lật đến tấm ảnh tuyết thì dừng lại, đưa cho bà Nhàn xem.
– Đây bác ạ. Tuyết đấy. Lạnh lắm.
Bà Nhàn cầm tấm ảnh, nhìn mãi.
– Trắng thế này à?
– Trắng thế đấy bác ạ.
Chỉ trong hai tuần, tin hiệu Ảnh Phác gửi được phim màu lan khắp thị trấn. Người đi lao động về có phim màu. Người có con đi lao động gửi về phim màu. Người ta mang đến những cuộn phim nằm trong hòm cả năm trời không ai rửa. Nhã ghi sổ, gửi đi, nhận về. Rồi cô làm một việc mà ông Thiệp ở hợp tác xã không nghĩ ra: cô hỏi ông Hiển mua phim màu.
Phim màu ngoại đắt như vàng. Một cuộn ba mươi sáu kiểu bằng mấy tháng tiền xôi. Nhưng cô không bán phim. Cô bán ảnh. Cô treo một tờ giấy lên cửa hiệu: nhận chụp ảnh màu Tết Kỷ Tỵ, đặt trước, lấy trước rằm tháng Chạp. Mỗi kiểu giá bằng sáu lần ảnh đen trắng. Bố Phác nhìn tờ giấy, lắc đầu, bảo không ai chụp đâu. Đến cuối tuần, cô đã có ba mươi mốt đơn, tiền đặt trước nằm trong cái hộp bánh quy ở ngăn kéo quầy.
– Mày định làm giàu à? – Bà Nhàn hỏi, lúc đếm tiền.
– Con định trả nợ, u ạ.
Bà Nhàn ngừng đếm.
– Nợ thằng Toản à?
– Vâng.
Bà nhìn cô. Rồi bà đếm tiếp, chậm hơn.
Nhã đã viết cho ông Hiển một lá thư dài. Cô nói hết: cái giấy nợ, ông Cẩn giao lại cho Toản, Toản bảo người nhà không đòi. Cô xin ông một việc mà cô biết là liều: số tiền công cô làm ảnh thờ suốt mùa hè, lẽ ra để trừ vào tiền chuộc máy, xin ông trả cho cô bằng vàng, để cô trả nợ trước. Cái máy, xin ông giữ thêm. Đến Tết, hoặc sau Tết.
Thư trả lời của ông Hiển chỉ có ba dòng.
"Tôi giữ máy đến khi cô em lấy. Tám chỉ, tôi gửi theo người phụ xe tên Mão, cô em ra đón. Nợ thì trả cho sạch rồi hẵng tính chuyện đồ quý."
Chiều Chủ nhật mồng sáu tháng Chín, bố Phác và Nhã mang vàng ra gốc bàng.
Tám chỉ của ông Hiển. Hai chỉ dành dụm từ tiền ảnh thờ, tiền xôi, tiền đặt ảnh màu. Một cây vàng, gói trong một mảnh vải điều bà Nhàn cắt ra từ cái vỏ gối cũ. Bố Phác cầm nó trong túi áo, tay đè lên ngoài như sợ nó bay mất.
Bà Hĩm đang ngồi trên chõng. Nhã đã nhờ bà từ hôm trước.
– Bà ngồi đấy thôi bà ạ. Bà không phải nói gì. Bà chỉ cần thấy.
– Ấy đấy, bà thì bà thấy giỏi lắm. – Bà cụ nói, và rót sẵn ba chén chè.
Toản đến lúc bốn giờ, như đã hẹn. Anh ta mặc cái áo ka ki, đi chân đất, bụi than còn bám ở chân tóc. Anh ta ngồi xuống cái ghế con đối diện bà Hĩm, nhận chén chè, cười chào.
Bố Phác đặt gói vải điều lên mặt chõng, mở ra.
– Một cây. – Ông nói. – Phần còn lại của nợ, tính đến tháng này. Lãi thì tháng nào bác cũng trả, có chữ lão Cẩn ký. Cháu đưa bác cái giấy, bác trả cháu cái này, rồi hết.
Toản nhìn gói vàng. Anh ta không cầm lên. Anh ta cũng không đẩy ra.
– Bác cất đi. – Anh ta nói, nhỏ nhẹ. – Cháu đã thưa với bác rồi. Người nhà với nhau, cháu không đòi.
– Bác chưa phải người nhà cháu. – Bố Phác nói.
Một con chim sẻ nhảy xuống mặt chõng, mổ một hạt cơm, rồi bay đi.
– Thì sang năm, bác ạ. – Toản vẫn cười. – Hết kim lâu. Bác cứ cất. Cái giấy cháu giữ, không mất được đâu. Cháu cất kỹ lắm.
– Tôi trả, cháu không nhận. – Bố Phác nói chậm, từng chữ, quay sang bà Hĩm. – Bà làm chứng cho nhà tôi.
– Bà thấy rồi. – Bà Hĩm gõ cái điếu cày xuống đất. – Ấy đấy, nhà người ta mang vàng ra tận đây trả, thằng Toản không lấy. Bà thấy rồi nhá.
Toản quay sang nhìn bà cụ. Lần đầu tiên Nhã thấy nụ cười của anh ta nhỏ lại, hẹp lại, chỉ còn ở khóe miệng, như cái cười ông Cẩn đã cười ở bậc cửa hôm cô từ chối lô Đức.
– Bà thấy thì tốt. – Anh ta nói. Rồi anh ta uống cạn chén chè, đứng dậy, chào bố Phác, chào bà Hĩm, không chào Nhã, và đi về phía cầu sắt.
Bố Phác ngồi im, gói vàng trên mặt chõng. Rất lâu sau ông mới gói nó lại, nhét vào túi áo.
– Nó không cần vàng. – Ông nói, không nhìn ai. – Nó cần cái giấy.
Chủ nhật hai mươi ba tháng Mười dương lịch, tức mười ba tháng Chín, trời mưa phùn đầu mùa.
Buổi trưa, có một người đàn ông dựng xe đạp ở hiên hiệu ảnh. Anh ta chừng ngoài ba mươi, gầy, da sạm, mặc bộ quân phục màu vàng của ngành công an đã bạc ở hai vai, đội mũ kê-pi, đeo một cái cặp giả da đã sờn quai. Anh ta tháo mũ, phủi mưa, bước vào, đứng thẳng trước quầy.
– Chào bác. Tôi là Đặng Quốc Đoàn, công an thị trấn. – Anh ta nói với bố Phác, rồi quay sang Nhã. – Chị là chị Ninh Thị Hồng?
– Vâng.
Anh ta mở cái cặp, rút ra một tờ giấy viết tay, mấy chỗ có vết mực nhòe vì mưa, đặt lên quầy. Dưới cùng tờ giấy có năm cái tên, năm chữ ký, hai cái điểm chỉ. Nhã đọc được tên đầu tiên: Đỗ Thị Rạng, thôn Đông, xã Lạc Hòa.
– Đây là đơn của mấy hộ ở Lạc Hòa và Tân Hưng. – Trung úy Đoàn nói. Giọng anh ta không to, không gắt, chậm và rõ như người đọc biên bản. – Các hộ trình bày là đã nộp vàng cho một người tên Lã Văn Cẩn để được đi lao động, đã chụp ảnh hồ sơ ở hiệu ảnh nhà bác, có nghe chị Hồng hứa hẹn. Đến nay không ai được đi, không ai lấy lại được vàng.
Anh ta gấp tờ đơn lại, đặt tay lên.
– Tôi đến để hỏi chuyện, theo đúng thủ tục. Chưa phải là bắt bớ gì. Bác cho tôi xin phép xem cái tủ phim.
— Hết chương 21 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe