Chương 7: Ông Táo về trời sớm
Con cá chép trong chậu nhôm quẫy một cái, nước bắn lên tận mặt Nhã, và bà Nhàn bật cười lần đầu tiên sau hai tháng.
– Nó khỏe thế này thì ông Táo cưỡi lên trời nhanh lắm.
Sáng hai mươi ba tháng Chạp, thứ Tư. Gian ngoài hiệu ảnh bừa bộn như một cái chợ. Ba khay ảnh tô màu còn ướt xếp trên mặt quầy. Một chồng khung gỗ chưa lắp kính dựa vào tường. Một mâm ngũ quả bọc giấy bóng kính, một bó hương, một gói vàng mã có cái mũ ông Công bằng giấy màu, ba đôi hia nhỏ xíu. Và con cá chép, to bằng bàn tay, quẫy trong chậu.
– Bố mày đâu? Bảo bố mày dắt xe ra. Muộn rồi.
Hai tháng qua là hai tháng bận nhất Nhã từng biết.
Sau cái khung ảnh bà Lự địu về làng, người Mộc Hạ bắt đầu kéo ra. Một bà mang ảnh chồng chụp chung trong đám cưới người khác, mặt ông bé tí ở hàng sau. Một ông mang tấm ảnh thẻ của đứa con gái mất vì sốt xuất huyết, ảnh ngâm nước lụt năm nào, chỉ còn một nửa khuôn mặt. Một bà cụ không mang ảnh, chỉ mang một tấm giấy khen có dán ảnh, ảnh đã bạc gần trắng. Rồi người các làng bên cũng đến. Đến giữa tháng Chạp, Nhã có mười một cái ảnh thờ đang làm dở, cái nào cũng phải xong trước Tết.
Cùng lúc ấy, người ta đến chụp ảnh Tết.
Nhã đề nghị với bố một thứ mà hiệu Ảnh Phác chưa làm bao giờ: tô màu ảnh. Không phải tô cả tấm, chỉ tô vài chỗ. Má hồng cho cô gái. Màu đỏ cho cái áo của đứa bé. Màu xanh lá cho cây liễu trên phông vẽ. Bằng màu nước pha thật loãng, quét bằng bút lông, từng lớp mỏng như hơi thở.
– Ảnh đen trắng mà tô màu thì thành ra ảnh gì? – Bố Phác hỏi.
– Ảnh Tết, bố ạ.
Ông không phản đối, nhưng cũng không ủng hộ. Ông chỉ nhìn cô tô thử một tấm ảnh của chính Chiểu, cái tấm cô chụp bằng tấm bìa giấy bạc. Cô tô má nó hồng lên, tô áo len nó màu xanh rêu, tô một chút vàng nhạt cho nền phông. Thằng bé trong ảnh nhìn ra như vừa bước từ một cái tranh lịch.
Bà Nhàn là người bán được tấm đầu tiên. Bà đặt tấm ảnh Chiểu ở chính giữa tủ kính, rồi ra hiên bán xôi. Ai mua xôi bà cũng hỏi một câu: chị có muốn chụp ảnh Tết tô màu cho thằng cu không, lấy trước hai mươi tám Tết, thêm năm chục.
Đến hai mươi tháng Chạp, cô đã nhận bốn mươi hai đơn tô màu.
Chiểu phụ cô mỗi đêm. Bài kiểm tra Toán gần nhất nó được năm điểm. Nó cầm về đưa bố ký, đứng thẳng như cái cột chờ ông ký. Ông ký, rồi nhìn thằng con một lúc, nói:
– Năm điểm cũng là điểm.
Thằng bé đỏ mặt cả buổi tối.
Nhã giữ cái tấm phim nửa mặt trong túi áo trong, kẹp giữa hai tờ giấy bóng. Những đêm làm việc xong, cô vẫn lấy nó ra soi. Một chàng trai lạ, tóc húi cua, nửa mặt bên phải là mặt thật, nửa mặt bên trái là mặt người khác, chân mày xếch, sống mũi cao, cằm có lõm. Cô không biết cái nửa bên trái được vẽ theo ai. Cô chỉ biết người vẽ nó đã dùng chính bàn tay cô đang có.
– Thằng Chiểu chở chị mày. – Bà Nhàn gọi. – Ông chở tôi với mâm ngũ quả. Cá thì ai cầm?
– Con cầm. – Nhã nói.
Họ đi lúc mười giờ sáng. Bố Phác chở bà Nhàn trên cái xe đạp khung xanh, mâm ngũ quả buộc ở giỏ trước. Chiểu chở Nhã trên cái xe cũ của nó, cô ngồi sau ôm con cá trong một cái xô nhựa có nắp, nước sóng sánh. Hiệu ảnh đóng cửa, khóa ngoài bằng một cái khóa đồng to, chìa bố Phác đeo ở thắt lưng.
Đường về Mộc Hạ là đường đất đỏ chạy giữa hai cánh đồng. Đồng mùa đông đã gặt xong vụ mùa, gốc rạ trơ ra, mặt ruộng nứt nẻ, lác đác mấy thửa đã cày ải, đất lật lên thành từng tảng nâu sẫm. Gió bấc thổi ngang, Chiểu đạp còng lưng. Người đi chợ Tết túm năm tụm ba, có người gánh lá dong, có người dắt lợn, có người chở trên đèo hàng một cành đào bọc bao tải.
– Năm nào cũng về à? – Nhã hỏi, rồi cắn lưỡi.
– Chị hỏi gì kỳ thế. – Chiểu thở hổn hển. – Hai mươi ba là giỗ ông. Năm nào chả về. Năm ngoái chị còn bị bà mắng vì về muộn.
Giỗ ông nội. Nhã không biết. Ông Chiểu chưa bao giờ kể. Ông chỉ nói "cả nhà về quê nội cúng ông Táo, năm nào cũng thế, ngủ lại ở quê". Nhưng cái phần quan trọng thì ông không nói. Đây không phải một bữa cúng ông Táo bình thường, mà là ngày giỗ người thầy đầu tiên của bố Phác, người đã mang cái máy ảnh hòm gỗ từ Hà Nội về. Không ai trong nhà này vắng mặt ngày ấy.
Trừ một người, năm sau.
Chị tôi kêu đau bụng, ở lại trông nhà.
Nhã nhìn ra cánh đồng. Bảy cây số. Đạp xe gần một tiếng. Từ Mộc Hạ, ban đêm, không thể nhìn thấy Bến Thượng. Không có điện thoại. Nếu hiệu ảnh cháy lúc nửa đêm, người ở Mộc Hạ sẽ biết khi nào? Sáng hôm sau, khi có người đạp xe vào báo.
Cô ôm chặt cái xô nhựa. Con cá quẫy bên trong, đập đuôi vào thành xô thình thịch.
Nhà bà nội là một nếp nhà ba gian lợp ngói ta, tường trình đất, có cái sân gạch rêu phong và một cây cau già đứng nghiêng. Bà nội đã ngoài tám mươi, mắt mờ đục như hai hòn bi ve, ngồi trên cái chõng tre ở hiên, tay lần một tràng hạt gỗ.
– Cái Hồng đấy à?
– Cháu đây bà.
– Lại đây bà xem.
Nhã quỳ xuống trước chõng. Bà nội đưa hai bàn tay khô như lá chuối khô lên sờ mặt cô, sờ trán, sờ má, sờ cái bím tóc.
– Gầy. – Bà nói. – Nghe nói mày ngạt than. Bà đã bảo cái nghề ảnh nó độc, ông mày ngày xưa cũng ho suốt. Thôi, sống là được.
Bà buông tay. Nhã đứng dậy, thấy hai mắt mình cay.
Họ làm cỗ. Bà Nhàn và hai bà thím chui vào bếp, mổ gà, đồ xôi, nấu canh măng. Bố Phác và mấy ông chú bày bàn thờ. Trên ban thờ giữa có một tấm ảnh chân dung khổ to, lồng khung gỗ đen. Một ông cụ đội khăn xếp, mặc áo the, ngồi trên ghế bành, một tay đặt lên đầu gối, một tay đặt lên một cái máy ảnh hòm gỗ để trên bàn. Cái máy giống hệt cái ở hiệu.
Nhã đứng nhìn tấm ảnh ấy rất lâu. Nó được chụp bằng chính cái máy trong ảnh, cô đoán vậy, có lẽ do bố Phác bấm. Ánh sáng đẹp, mềm, từ một bên, có tấm hắt sáng ở phía kia. Ông cụ không cười nhưng mắt ông có cái nét của người vừa nghĩ đến một câu đùa.
– Ông mày chụp tấm này năm bảy hai. – Bà nội nói từ ngoài hiên, như biết cô đang đứng ở đâu. – Bảo bố mày đặt máy, ông chỉnh đèn, ông bấm hẹn giờ. Ông bảo chân dung người thợ ảnh phải có cái máy, như chân dung ông đồ phải có cái bút.
– Cái máy ấy ông mang từ Hà Nội về hả bà?
– Từ Hà Nội về. Năm năm sáu. Ông bán cả cái nhà ở phố để giữ cái máy. Ông bảo bán nhà thì còn làm được nhà khác, bán máy thì hết nghề. – Bà lần thêm một hạt. – Mày hỏi như người lạ ấy.
– Cháu thích nghe bà kể.
– Ừ. Ngạt than rồi biết thích nghe bà kể.
Tối hôm ấy họ cúng ông Táo và giỗ ông nội cùng lúc. Bố Phác khấn, giọng trầm và chậm, Nhã nghe được tên ông nội, Ninh Văn Tạo, nghe được tên từng người trong nhà, nghe được câu "phù hộ cho cái hiệu nhà con qua được năm nay". Xong, Chiểu và mấy đứa em họ mang con cá chép ra cái ao đầu làng thả. Nhã đi theo.
Con cá được thả xuống nước, quẫy một cái rồi lặn mất. Mặt ao phẳng lặng, đen như mực, chỉ có mấy ngôi sao rét run rẩy trên mặt nước. Trăng hai mươi ba phải quá nửa đêm mới lên. Đám trẻ con reo hò. Chiểu đứng bên cạnh cô, thở ra khói trắng.
– Chị.
– Gì?
– Năm sau em đỗ tốt nghiệp thì chị mua cho em cái đồng hồ nhé.
– Em đỗ thì chị mua.
– Đồng hồ có dạ quang ấy.
– Ừ.
Thằng bé nhe răng cười, chạy về trước. Nhã đứng lại bên bờ ao.
Năm sau. Hai mươi ba tháng Chạp năm sau, cũng cái ao này, cũng đám trẻ con này, cũng con cá chép, chỉ là không có cô. Ở Bến Thượng, cái hiệu ảnh sẽ đóng cửa, khóa ngoài bằng cái khóa đồng, chìa đeo ở thắt lưng bố Phác. Và ở bên trong, trong buồng tối, sẽ có một người.
Cô gái tên Hồng đã ở lại làm gì? Kêu đau bụng, bỏ giỗ ông nội, bỏ người bà mắt mờ đã sờ mặt cô, để ngồi một mình trong một căn nhà đóng cửa. Làm gì?
Đêm ấy cả nhà ngủ lại. Nhã nằm cạnh bà nội trên cái giường tre, nghe bà ngáy khe khẽ, nghe gió lùa qua liếp tre, nghe tiếng chó sủa ran từ đầu làng đến cuối làng. Chân cô co rúm mỗi lần có tiếng sủa gần. Cô không ngủ được.
Sáng hôm sau, hai mươi bốn tháng Chạp, họ về Bến Thượng.
Đến đầu cầu sắt đã thấy một cái xe đạp dựng ở hiên hiệu ảnh. Một người đàn ông mặc bành tô ghi đang ngồi trên bậc cửa, hút thuốc lá cuốn, cái cặp da đặt bên cạnh.
– Ông anh về rồi! – Ông Cẩn đứng dậy, cười rộng. – Em đợi từ sáng. Tết nhất đến nơi, em mang cho ông anh chai rượu.
Bố Phác mở khóa. Cả nhà vào. Ông Cẩn đưa cho bố Phác một chai rượu trắng nút lá chuối, đưa cho bà Nhàn một gói mứt gừng, đưa cho Chiểu mười đồng mừng tuổi sớm. Thằng bé cầm tiền, liếc Nhã, rồi đưa trả lại.
– Cháu không lấy đâu chú.
– Ơ hay, thằng này. – Ông Cẩn cười to. – Học đâu cái thói ấy?
Ông nhét tiền vào túi áo nó. Chiểu đứng im, không lấy ra, không cảm ơn.
Họ nói chuyện thêm một lúc. Rồi ông Cẩn đứng dậy về. Ông đi ngang qua quầy, chỗ Nhã đang xếp lại những tấm ảnh tô màu, dừng lại nhìn.
– Đẹp đấy. Em tô à?
– Vâng.
– Khéo tay. – Ông cúi xuống, như để nhìn kỹ một tấm ảnh, và nói rất nhỏ. – Ra Giêng có ba bộ. Mồng tám anh mang xuống. Ba bộ cần em sửa gấp, đợt đi tháng Ba. Như cái lần trước nhé. Em làm khéo, anh tính như cũ.
Ông thẳng người lên, vỗ nhẹ hai cái lên mặt quầy, rồi đi ra.
Nhã đứng im. Trong túi áo trong của cô, tấm phim nửa mặt nằm sát ngực, kẹp giữa hai tờ giấy bóng.
Sửa. Như cái lần trước.
Cô không cần lấy nó ra để biết. Cô đã thấy cái lần trước. Nó có một nửa khuôn mặt thật và một nửa khuôn mặt mượn.
— Hết chương 7 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe