Chương 15: Cái máy hòm gỗ
Cái xe khách thứ hai trong ngày rời bến Bến Thượng lúc sáu giờ mười, và Nhã là người cuối cùng chen được lên. Cô đứng ở bậc cửa, một tay bám vào thanh sắt, một tay ôm cái túi vải bà Nhàn dúi cho.
– Nắm xôi, mấy quả trứng, hai trăm đồng. – Bà Nhàn đã nói, ở hiên, lúc trời còn tối. – Ông ấy hay lên chợ Trời mua giấy với thuốc. Mày tìm ở đấy. Tìm được thì bảo ông ấy về. Không tìm được thì mày cũng về, đừng có đi lang thang.
– U không đi à?
– U đi thì ai bán xôi. – Bà nói, rồi quay vào, lưng thẳng, không ngoảnh lại.
Xe chạy trên đường số 5, chở gấp đôi số người nó có thể chở. Trên nóc xe, người ta buộc bao gạo, sọt gà, xe đạp, một cái giường tre tháo rời. Trong xe, người ngồi trên ghế, người ngồi trên bao tải dưới sàn, người đứng chen nhau ở lối đi. Mùi mồ hôi, mùi dầu máy, mùi gà, mùi thuốc lào. Cửa kính vỡ một nửa, gió lùa vào mang theo bụi đỏ. Mỗi khi xe dừng ở một thị trấn dọc đường, người phụ xe lại nhảy xuống, hò hét gọi khách, và lại có thêm người chen lên.
Nhã đứng ở bậc cửa suốt hai tiếng rưỡi. Cô nhìn những cánh đồng lúa mùa mới cấy xanh non lướt qua, những lũy tre, những cái ao, những đứa trẻ cưỡi trâu trên bờ ruộng giơ tay vẫy xe. Rồi những dãy nhà bắt đầu dày lên, ống khói nhà máy, những bức tường quét vôi vàng loang lổ. Xe đỗ ở một bến xe bên kia sông Hồng. Cô xuống, đi bộ qua cây cầu sắt dài, đi cùng với hàng trăm người đạp xe, gánh hàng, đẩy xe bò. Dưới chân, qua những khe ván, nước sông đỏ quạch chảy cuồn cuộn mùa lũ.
Cô đã nhìn thấy cây cầu này nhiều lần ở năm 2026, qua cửa kính ô tô, từ một cây cầu khác bắc song song, như nhìn một món đồ cổ. Bây giờ cô đang đi trên nó, và nó rung lên dưới chân cô mỗi khi có đoàn tàu chạy qua ở làn giữa.
Chợ Trời là một dãy hàng chen chúc ở một khu phố cũ, bán đủ thứ trên đời. Đồ điện tử cũ, đồ sắt vụn, phụ tùng xe đạp, quần áo người đi Liên Xô mang về, đài bán dẫn, đồng hồ, bàn là. Người bán ngồi trên vỉa hè, trải đồ ra trên tấm ni lông, hoặc đứng trong những gian hàng bằng tôn chỉ rộng bằng cái giường. Nhã hỏi bốn người mới tìm ra dãy hàng bán đồ ảnh.
Ở đó có chừng năm sáu gian. Máy ảnh cũ, ống kính, chân máy, những hộp giấy ảnh bày trên giá gỗ, những chai thuốc hiện không nhãn đựng trong vỏ chai bia. Cô đi qua từng gian, nhìn vào từng giá.
Đến gian cuối cùng, cô dừng lại.
Cái máy hòm gỗ đặt trên một cái bục gỗ ở chính giữa gian hàng, như một bức tượng đặt trên bệ. Cái hộp màu gụ, các góc bọc đồng, ống kính đồng vàng. Cái hộp xếp bằng da đã được kéo ra một nửa để khoe. Ai đó đã lau nó, lau kỹ, đến mức những góc đồng sáng lên dưới ánh nắng xiên qua mái tôn.
Một ông già ngồi sau bục, đeo kính lão gọng đồi mồi, mặc áo sơ mi trắng cộc tay đã ngả màu, đang dùng một cái bút lông nhỏ phủi bụi trên một cái ống kính.
– Cô em xem gì? – Ông hỏi, không ngẩng lên. Giọng Hà Nội cũ, chậm, rõ từng chữ.
– Cái máy này ông mua lúc nào ạ?
Ông đặt cái ống kính xuống, nhìn cô qua cặp kính lão.
– Sáng nay. Một ông ở dưới Hải Hưng mang lên. – Ông nheo mắt. – Cô em là con ông ấy à? Mặt giống.
– Vâng. Bố cháu đâu rồi ông?
– Ông ấy đi được một tiếng rồi. Cầm tiền là đi ngay, không uống nổi chén nước. – Ông già thở dài. – Tôi hỏi ông ấy bán làm gì, ông ấy bảo trả nợ. Tôi trả ông ấy mười hai chỉ. Cái máy này, cô em ạ, nếu là thời Pháp thì phải bằng cả cái nhà.
Nhã đứng nhìn cái máy. Bàn tay cô muốn vươn ra chạm vào nó. Cô giữ tay lại.
– Ông cho cháu chuộc lại được không ạ?
– Cô em có mười hai chỉ không?
– Không ạ.
– Thế thì chuộc bằng gì?
Cô không trả lời ngay. Cô nhìn quanh gian hàng. Trên vách tôn treo mấy tấm ảnh cũ trong khung gỗ, ảnh phố cổ, ảnh một đám cưới thời Pháp, ảnh một cô gái mặc áo dài đội khăn vấn. Một tấm bị ẩm, mốc loang một góc. Một tấm bị rạn ngang qua mặt cô gái.
– Tấm ảnh kia, – cô chỉ vào tấm cô gái đội khăn vấn, – ông có muốn nó lành lại không?
Ông già quay lại nhìn tấm ảnh, rồi nhìn cô.
– Ảnh mẹ tôi. Chụp năm ba hai. Rạn từ hồi tản cư, nhét trong bọc quần áo.
– Ảnh này in trên giấy dày, mặt bóng. Vết rạn là rạn lớp thuốc, giấy bên dưới vẫn còn. Cháu chụp lại nó, sửa trên phim, cạo vết rạn, phóng ra một tấm mới, ông sẽ thấy lại mặt bà như hồi chưa rạn. Cái mốc ở góc kia thì cháu không lau được, nhưng trên tấm mới sẽ không còn mốc.
Ông già ngồi im. Rồi ông tháo kính lão ra, lấy vạt áo lau, đeo lại.
– Cô em làm ở hiệu bố cô em à?
– Vâng.
– Hiệu ấy có làm ảnh thờ không?
– Có ạ. Từ ảnh bé bằng đốt ngón tay, cháu cũng làm được.
Ông già đứng dậy, đi vào phía sau gian hàng, lục cục một lúc, rồi mang ra một cái hộp bìa cứng. Ông đặt nó lên bục, cạnh cái máy hòm gỗ, mở nắp. Bên trong là chừng hai chục tấm ảnh cũ, tấm nào cũng rách, rạn, ố, mốc. Mỗi tấm kèm một mảnh giấy nhỏ ghi tên, địa chỉ.
– Khách của tôi. – Ông nói. – Người Hà Nội, nhà nào cũng có người mất trong chiến tranh, mà ảnh thì chỉ còn những cái này. Họ đến chợ hỏi tôi chỗ nào làm được. Tôi bảo không chỗ nào làm được. Hiệu ở phố thì làm ra cái mặt như tượng sáp. Nhà nước thì không có thời gian.
Ông đặt một ngón tay lên cái máy hòm gỗ.
– Thế này. Cái máy tôi giữ. Tôi không bán cho ai trong sáu tháng. Cô em làm cho tôi chỗ ảnh này, tấm nào ra tấm ấy. Tôi trả công cô em theo giá Hà Nội, trừ dần vào mười hai chỉ. Giấy ảnh với thuốc, tôi bán cho cô em giá gốc. Sáu tháng mà trừ đủ thì cô em mang máy về.
Nhã nhìn ông già. Rồi nhìn cái hộp ảnh.
– Ông tin cháu à?
– Tôi tin cái máy. – Ông nói. – Một nhà giữ được cái máy này ba mươi năm thì con cái nhà ấy không phải hạng nói láo.
Cô ngồi với ông già, tên ông là Hiển, Tạ Quang Hiển, đến gần trưa. Ông pha trà mạn, mời cô ăn bánh khảo. Cô xem từng tấm ảnh trong hộp, nói với ông tấm nào làm được, tấm nào khó, tấm nào chỉ cứu được một nửa. Ông ghi lại bằng một cây bút máy, nét chữ cổ, nắn nót. Rồi ông đưa cho cô một tờ giấy, ghi những gì hai bên đã thỏa thuận, ký tên, bảo cô ký.
Cô ký bằng tay trái. Chữ g có móc ngược.
Đến lúc cô đứng dậy về, ông Hiển chợt hỏi:
– À, giấy ảnh nhà cô em đang dùng là giấy gì?
– Giấy ngoại, hộp màu cam. Bố cháu mua đầu năm ngoái, nhưng bị mốc gần hết.
Ông Hiển nhíu mày.
– Hộp cam, nắp có cái vạch xanh, phải không?
– Vâng.
– Mua của ai?
– Của một người tên Cẩn, ông ạ. Ở dưới Bến Thượng.
Ông già đặt chén trà xuống.
– Lô ấy là của tôi. – Ông nói, chậm rãi. – Đầu năm ngoái tôi mua lại cả lô ở một cái kho bị dột, ngâm nước mấy trận mưa. Tôi bán tháo, rẻ như cho, nói rõ là giấy hỏng, chỉ dùng được để in thử. Một tay tên Cẩn ở dưới Hải Hưng lên mua hết. Hắn bảo hắn có chỗ cần giấy in thử.
Nhã đứng im.
– Hắn bán lại cho bố cô em bao nhiêu?
– Bố cháu vay hắn hai cây vàng để mua máy phóng với lô giấy ấy.
Ông Hiển không nói gì. Ông chỉ lắc đầu, chậm, rồi cúi xuống cái ống kính đang lau dở.
Trên chuyến xe chiều, cô được một chỗ ngồi, kẹp giữa một bà buôn vải và một chị trẻ bế con. Đứa bé chừng hai tuổi, tóc tơ, ngủ say trên ngực mẹ, một tay nắm chặt vạt áo mẹ không buông. Chị trẻ nói giọng Hải Phòng, bảo với bà buôn vải là chị lên Hà Nội thăm chồng nằm viện, giờ về cho kịp ca đêm ở xưởng.
Nhã nhìn bàn tay nhỏ xíu nắm vạt áo. Ở Hải Phòng, cũng có một chị công nhân hai mươi sáu tuổi đang làm ca ở một xưởng dệt, và một con bé ba tuổi tóc tơ. Chỉ cách Bến Thượng ba chục cây số. Một chuyến xe khách. Cô chưa dám nghĩ đến chuyện ấy, suốt bảy tháng nay. Cô sợ nếu nghĩ đến thì sẽ đi, và nếu đi thì sẽ không biết phải đứng trước mặt mẹ mình mà nói gì.
Đứa bé trở mình, ọ ẹ. Chị trẻ vỗ lưng nó, ngân nga một câu hát ru. Nhã quay mặt ra cửa sổ.
Nhã về đến Bến Thượng lúc chập tối. Cái xe khách chiều chạy chậm hơn, nghỉ ở hai chỗ, thủng lốp một lần. Cô xuống xe ở bến, cái túi vải nặng trĩu một hộp ảnh của ông Hiển và ba hộp giấy ảnh mới mua giá gốc. Trời đã nhá nhem. Những ngọn đèn dầu bắt đầu thắp lên dọc dãy hàng quán quanh bến.
Ở góc bến có một quán bia hơi, cái biển gỗ vẽ cốc bia sủi bọt, mấy cái bàn gỗ thấp bày ra tận mép đường. Người ngồi chật kín, tiếng cười nói, tiếng cốc chạm nhau. Nhã đi ngang qua, cúi đầu, định đi thẳng.
Rồi cô nghe một tiếng cười. Ấm, rộng, quen thuộc.
Cô dừng lại sau một cái cột tre treo đèn bão. Ở cái bàn trong cùng, quay lưng ra phía cô, là cái áo bành tô ghi đã vắt lên lưng ghế. Đối diện là một cái áo ka ki màu cỏ úa, miếng vá hình chữ nhật ở khuỷu tay trái.
– Lão Phác mang lên mười hai chỉ, trưa nay. – Giọng ông Cẩn. – Bán cả cái máy. Còn hơn một cây nữa, lão bảo trả dần.
– Thế là xé được giấy nợ chưa? – Giọng Toản. Nhỏ, đều, không vui không buồn.
– Xé làm gì. Giấy nợ còn thì còn có cái để nói chuyện. – Tiếng cốc đặt xuống bàn. – Cái chính là con bé. Từ hôm ngạt than nó lạ lắm. Không làm lô Đức.
– Nó không làm thì thay người khác. Có thằng thợ ở thị xã làm được. Kém hơn, nhưng được.
– Còn thằng Chiểu?
Toản im một lúc. Nhã nghe tiếng anh ta rót bia.
– Thằng Chiểu vẫn đi. – Anh ta nói. – Nó tự muốn đi. Chị nó không ngăn được.
— Hết chương 15 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe