AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Tiếng đục lúc canh ba

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Tiếng đục lúc canh ba

Họ không về. Ông Mười Rổ về, vì ông già rồi, đầu gối đã kêu răng rắc từ lúc chui cống. Còn Thiết với Nghiên thì đi lên.

Con đường phu khiêng đá ở sườn đông chạy ngoằn ngoèo lên tới lưng chừng núi, rồi rẽ vòng sang phía bắc, men theo mép ngoài của dãy cột mốc. Ban ngày, con đường ấy đông như chợ. Ban đêm, nó chỉ là một dải đất nhạt màu hơn bóng tối hai bên, đầy sỏi lạo xạo dưới chân. Nghiên đóng hẳn khe đèn lồng. Họ đi bằng ánh sao, đi bằng trí nhớ của bàn chân.

Tiếng đục mỗi lúc một rõ. Cộc. Cộc. Cộc. Rồi im một lúc. Rồi lại cộc, cộc.

Đến một chỗ sườn núi lồi ra như cái vai người, Thiết kéo Nghiên ngồi xuống sau một tảng đá. Từ đây nhìn xuống được một cái khe núi hẹp ở sườn bắc, cây bụi mọc lúp xúp. Dưới đáy khe, có một vệt sáng.

Không phải ánh lửa. Chỉ là một vệt vàng mờ đục, lọt ra từ một cái miệng hang thấp, tròn và bẹt, giống hệt cái mai rùa úp sấp. Ai đó đã căng một tấm phên hay một tấm chiếu che miệng hang, nhưng che không kín, ánh đèn bên trong rỉ ra qua mép. Trước miệng hang có hai bóng người ngồi bó gối, không đốt lửa, chỉ ngồi im như hai gốc cây.

– Hang Rùa – Nghiên thì thào. – Mỏ đá cũ. Ông nội tôi kể ngày xưa người ta lấy đá ong ở đây về xây đình. Bỏ lâu rồi. Từ ngày có lăng thì nằm trong cột mốc, không ai được vào.

Thiết không trả lời. Anh nhắm mắt lại, nghe.

Cộc. Cộc. Cộc. Nghỉ. Cộc. Cộc. Cộc. Nghỉ.

Rồi xen vào đấy, một tiếng khác, nhỏ hơn, mau hơn, không có nhịp nghỉ. Cộc cộc cộc cộc cộc.

– Hai người – anh nói. – Một người gõ ba nhát nghỉ một, như thợ học nghề ở phủ dưới, thầy dạy thế cho khỏi mỏi tay. Người kia gõ liền, gõ vội, như người mới học.

– Ông nghe được cả cái ấy à?

– Hồi bé cha tôi bắt ngồi nghe. Mỗi lần đục, ông bắt tôi quay lưng lại, đoán xem ông dùng búa nào.

Họ ngồi đó hồi lâu. Gió từ khe núi thổi lên, buốt như kim châm. Nghiên co người lại trong cái áo nâu mỏng. Thiết cởi cái áo khoác ngoài của mình, đưa cho nàng. Nàng nhìn cái áo một lúc, rồi cầm lấy, khoác lên vai mà không nói cảm ơn.

– Sao ông bỏ nghề? – nàng hỏi, mắt vẫn nhìn xuống cái miệng hang.

– Ai bảo cô tôi bỏ?

– Cả bãi Cỏ Gấu nói. Bác Lương có thằng con đục đá giỏi nhất lứa, mười sáu tuổi đã đục được bờm sư tử, rồi tự nhiên bỏ đi làm chó săn cho nha môn. Họ nói thế. Tôi chỉ nhắc lại.

Thiết im lặng một lúc lâu.

– Năm tôi mười bảy, chú ruột tôi bị bắt. Chợ huyện mất một hòm bạc của hiệu cầm đồ. Cái khóa hòm bị phá. Chú tôi là thợ rèn, người ta bảo chỉ có thợ rèn mới phá được cái khóa ấy. Bổ đầu ngày ấy trói chú tôi lên, đánh cho đến lúc chú nhận. – Anh nói đều đều, như kể chuyện người khác. – Tôi xin vào xem cái khóa. Vết phá trên khóa là vết đục, không phải vết rèn. Đục bằng một cái đục bằng lưỡi rộng ba phân, mẻ một góc. Thợ rèn không dùng đục ấy. Thợ mộc dùng. Tôi đi khắp chợ xem đồ nghề của thợ mộc, tìm ra cái đục mẻ góc ấy trong hòm đồ của chính người làm công ở hiệu cầm đồ.

– Rồi sao?

– Rồi quan huyện cũ thả chú tôi, gọi tôi vào hỏi có muốn làm nha lại không. Tôi bảo muốn. Cha tôi bảo thợ đá không đi làm chó săn. Cha tôi bảo tôi đi thì đừng về. – Anh nhặt một hòn sỏi, xoay trong tay. – Tôi đi.

Nghiên không nói gì nữa. Dưới khe núi, tiếng đục vẫn vọng lên, cộc, cộc, cộc, nghỉ.

Gần canh năm thì tiếng đục im. Vệt sáng ở miệng hang tắt. Một lúc sau, có ba bóng người từ trong hang đi ra. Hai người đi trước khiêng chung một cái đòn, giữa đòn treo một vật gì nặng trĩu, bước chân choãi ra. Họ men theo đáy khe đi xuống phía tây, về phía tường lăng. Hai bóng người ngồi canh vẫn ngồi nguyên. Trời tối quá, Thiết không nhìn rõ mặt ai. Anh chỉ thấy người đi sau cùng khoác một cái bao trên vai trái, và đi hơi lệch người sang bên trái, như người quen dùng tay ấy.

Họ về đến bãi Cỏ Gấu lúc gà gáy. Nghiên trả cái áo cho Thiết ở đầu bãi, rồi đi thẳng về lán, nhóm bếp nấu cơm sáng như mọi ngày.

Hôm ấy là mùng một tháng Một.

Thiết không ngủ. Anh rửa mặt bằng nước suối, ăn vội bát cơm, rồi đi thẳng lên phòng lương ở cổng phụ. Phòng lương là một cái nhà gạch nhỏ nằm ngay ngoài tường, đất huyện, cửa sổ chấn song gỗ. Ông Kiểu ngồi sau cái án thư chất đầy giấy, thấy Thiết vào thì giật mình làm đổ cả nghiên mực.

– Tôi không hỏi chuyện mật – Thiết nói trước khi ông kịp mở miệng. – Tôi hỏi chuyện đá. Dấu ba gợn sóng tháng này mười bốn phiến. Ông đếm ở đâu?

– Ở bãi kiểm. Đá đục xong thì khiêng ra bãi kiểm, tôi lật lên xem dấu, ghi vào giấy kê, quan Thị lang đóng dấu. – Ông Kiểu lau mực trên tay áo, giọng run. – Tôi chỉ đếm dấu. Ai đục thì tôi không biết. Thợ đông như thế, tôi biết làm sao.

– Ai khiêng năm phiến cuối ra bãi kiểm?

Ông Kiểu ngập ngừng.

– Lính lăng. Hôm hai mươi tám. Bên đội trưởng Vạn bảo là đá dự phòng của huyền cung, khiêng từ trong ra. Tôi tưởng ông Tảo đục từ trước, giờ mới đem kiểm.

– Ông không thấy lạ à? Người chết ba ngày rồi.

– Thấy lạ thì tôi làm gì được, bổ đầu? – Ông thư lại ngẩng lên, lần đầu tiên nhìn thẳng vào Thiết, mắt đỏ hoe. – Tôi ăn bớt mấy vò mật thì đã đành. Còn cái gì đội trưởng Vạn đưa tới, tôi không dám hỏi. Ai hỏi thì người ấy ra suối Hàn Khê.

Ở làng Nghiên, người ta có lệ: chôn người xong, đến ngày mùng một đầu tiên thì đem áo quần cũ của người mất ra giặt sạch, cái nào còn lành thì cho người nghèo, cái nào rách thì đốt. Áo quần cũ của ông Tảo vẫn nằm trong cái rổ ở góc nhà từ hôm khâm liệm, nàng chưa dám động vào.

Trưa, khi thợ đã ăn xong và lên núi, nàng xách rổ ra suối. Không ra suối Hàn Khê, mà ra con lạch nhỏ sau bãi, chỗ có mấy phiến đá phẳng đàn bà trong bãi vẫn ra giặt. Nắng tháng Một hanh và mỏng, chiếu xuống mặt nước lấp lóa.

Nàng giặt cái áo nâu trước, vò từng chỗ, giũ ra, vắt khô. Rồi đến cái quần lá tọa. Hai mảng bụi vàng ở đầu gối vò mãi mới phai đi, để lại hai vệt màu nhạt hơn. Rồi đến cái thắt lưng vải chàm.

Cha nàng có một thói quen mà cả bãi không ai biết, trừ mẹ nàng ngày xưa, và nàng. Ông không tin cái túi đeo hông. Ông bảo túi đeo thì kẻ cắp cắt được. Nên ở đầu thắt lưng, chỗ quấn vào trong cùng sát bụng, ông khâu gấp mép vải lại thành một cái túi kín nhỏ bằng hai ngón tay, đường khâu bằng chỉ gai, chỉ có ông biết tháo. Tiền nào quý ông bỏ vào đấy. Năm mẹ nàng ốm, nàng đã thấy ông tháo chỉ, lấy ra một nén bạc nhỏ mang đi đổi thuốc.

Nàng lần tay theo mép thắt lưng. Đến đầu trong, ngón tay nàng chạm vào một chỗ cộm.

Nàng ngồi im một lúc. Rồi nàng lấy cái kim khâu cài ở vạt áo, khều đứt từng mũi chỉ gai. Chỉ gai ngâm nước đã nở, khều mãi mới đứt. Cái túi kín mở ra. Nàng dốc ngược nó lên lòng bàn tay.

Không phải tiền. Một mẩu đá.

Mẩu đá xanh, mỏng, to bằng hai móng tay cái đặt cạnh nhau, một mặt vỡ sắc, một mặt phẳng nhẵn như mặt đá đã mài. Trên mặt phẳng ấy có một nét đục. Một nét cong, nông, mở ra như một cánh chim đang lượn, rồi bị đường vỡ cắt ngang ở giữa. Chỉ còn nửa.

Nàng không cần nhìn lâu. Nàng đã thấy cái nét ấy hàng nghìn lần, khắc trên một cái thẻ tre treo ở vách lán cơm, mỗi ngày ba lần chuyển từ cọc này sang cọc khác. Nàng đã khía vào lưng cái thẻ ấy hàng nghìn khía.

Cánh én.

Nàng nắm chặt mẩu đá trong tay, chặt đến mức cạnh sắc của nó cứa vào lòng bàn tay. Nàng ngồi trên phiến đá giặt, nhìn con lạch chảy, nhìn rổ quần áo ướt bên cạnh, nhìn mãi mà không thấy gì.

Mày làm vỡ đá tao. Ông Mười Rổ đã nghe bác Lương quát câu ấy, đêm hai mươi lăm, giờ Tuất. Đá của cha nó sai rồi. Cha nàng đã dặn nàng câu ấy, giờ Dậu cùng đêm. Rồi sáng ra cha nàng nằm dưới chân cầu Hàn Khê, cái cầu có trụ do bác Lương xây. Và trong cái túi kín mà kẻ giết người đã không biết, cha nàng giấu một mẩu đá vỡ mang dấu cánh én.

Chiều hôm ấy nàng nấu cơm như một người khác nấu. Cơm khê một nồi. Canh mặn. Ông Kim Thọ ăn một miếng rồi ngẩng lên nhìn nàng, định nói gì lại thôi. Đến bữa tối, khi bác Lương bước vào lán, chuyển cái thẻ cánh én sang cọc tối, chìa bát ra, nàng xới cơm cho bác mà không ngẩng lên. Tay nàng run làm rơi một muôi canh ra ngoài bát. Bác Lương nhìn nàng một thoáng, rồi cầm bát đi ra góc lán ngồi ăn một mình, như mọi tối.

Nàng nhìn theo bóng lưng ông già. Bốn năm nay, tối nào nàng cũng xới cơm cho ông. Tháng Chín năm ngoái nàng ốm, chính ông là người đi bộ về huyện lỵ mua thuốc cho nàng, đi về mất nguyên một ngày, rồi không lấy tiền.

Tối mịt, khi bãi Cỏ Gấu đã lên đèn, Thiết đang ngồi ở điếm tuần với ông Tòng và Mậu. Anh trải ra trên bàn mấy thứ anh có: cái túi vải đứt dây, mẩu vữa bở, một tờ giấy ghi số vò mật. Ông Tòng đang nói gì đó về Thị lang Bành và em vợ ông Kiểu thì cửa điếm mở.

Nghiên đứng ở ngưỡng cửa. Nàng không cầm đèn. Mặt nàng trắng bệch trong ánh lửa bếp.

– Chú Tòng, cậu Mậu, cho tôi nói với ông bổ đầu một mình.

Ông Tòng nhìn Thiết, rồi kéo Mậu đứng dậy đi ra sân. Cửa khép lại.

Nghiên đi đến bên bàn. Nàng xòe bàn tay, đặt xuống mặt gỗ, ngay cạnh cái túi vải đứt dây, một mẩu đá xanh nhỏ bằng hai móng tay. Lòng bàn tay nàng có một vệt xước đỏ đã khô.

Thiết nhìn mẩu đá. Anh không cần cầm lên. Anh biết nét cong ấy như biết chữ ký của chính mình.

– Trong túi kín thắt lưng của cha tôi – nàng nói, giọng khàn, phẳng, không lên không xuống. – Cha tôi khâu bằng chỉ gai, chỉ cha tôi biết. Kẻ giết cha tôi cắt túi đeo hông, không biết có cái túi này.

Nàng nhìn thẳng vào mắt anh.

– Cánh én. Ông nói đi.

— Hết chương 8 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →