Chương 13: Gánh cơm vào hang Rùa
Người lính đặt xuống mẹt tiền một xâu ba trăm đồng, gấp mười mấy lần giá ba suất cơm.
– Ba suất cơm, một be rượu, trưa mai mang lên chòi gác sườn bắc. Ngày nào cũng thế, đến khi có lệnh thôi. Thừa thì cô giữ.
Đó là chập tối mùng năm. Nghiên nhìn xâu tiền rồi nhìn người lính, một gã mặt rỗ mà nàng biết là lính dưới quyền Vạn.
– Lính lăng có bếp riêng. Sao lại mua cơm lán tôi?
– Bếp lính đang thiếu người. Mà cơm lán cô ngon, cả núi biết. – Gã cười, nhe hàm răng vàng khè. – Đừng hỏi nhiều. Có lấy tiền không?
Nàng lấy. Nửa canh giờ sau, nàng kể cho Thiết ở điếm tuần.
– Chòi gác sườn bắc ở ngay trên miệng khe – nàng nói. – Chỗ mình ngồi đêm ba mươi. Đi xuống khe chưa đến trăm bước là hang Rùa.
Thiết ngồi im rất lâu.
– Ba suất – anh nói. – Hai người canh mà mình thấy đêm ấy. Thêm một người nữa. Ba người làm đêm, ngủ ngày. Người ta cần cơm trưa cho họ, mà bếp lính không đưa được vì bếp lính đông người, lắm mồm.
– Vậy sao lại thuê tôi? Tôi là con gái ông Tảo.
– Vì người thuê cô không biết cô đã ngồi trên cái vai núi ấy đêm ba mươi. Người ta chỉ biết cô là con bé nấu cơm. – Anh ngừng. – Hoặc người ta biết, và người ta muốn xem cô làm gì.
Nàng nhìn anh.
– Thế ông bảo tôi có đi không?
– Cô đi. Tôi đi với cô.
Trưa mùng sáu, trời âm u, gió bắc thổi từng cơn lạnh buốt. Nghiên gánh đôi quang gánh đi lên con đường phu ở sườn đông, một đầu là cái thúng đựng ba cái giỏ cơm đan tre và be rượu, đầu kia là nồi canh bí đậy lá chuối. Thiết đi cách nàng chừng trăm bước, đội cái nón mê rách, mặc cái áo nâu vá vai của ông Tòng, vai cũng gánh một đôi quang không, như một người phu đi lấy củi. Mặt anh bôi một lớp nhọ nồi pha bùn. Ông Tòng bảo người quen nhìn kỹ thì nhận ra, nhưng lính gác thì chẳng ai nhìn kỹ một thằng phu.
Đến khúc vai núi, Nghiên đi tiếp lên chòi gác. Thiết rẽ xuống, men theo sườn khe, chui qua những bụi sim mua đã tàn hoa, lần xuống đáy khe. Anh đặt đôi quang gánh xuống sau một tảng đá, cách miệng hang chừng ba chục bước.
Ban ngày, hang Rùa trông không có gì đáng sợ. Một cái miệng hang thấp, bẹt, vòm đá ong vàng sẫm, rêu xanh bám thành từng mảng. Cái phên tre che miệng hang đêm ấy giờ đã được kéo sang một bên. Không có ai đứng gác. Hai người canh đêm chắc đã lên chòi ăn cơm cùng lính.
Trên vai núi, anh nghe giọng Nghiên vọng xuống, lanh lảnh.
– Cơm đây các anh! Canh bí nấu tôm khô, ăn nóng mới ngon. Ai rót rượu cho tôi một chén lấy hơi nào, gánh lên dốc muốn đứt hơi.
Có tiếng cười, tiếng bát đũa. Thiết rời tảng đá, khom người chạy tới miệng hang.
Trước miệng hang, đất nện chặt, đầy dấu chân. Anh ngồi xổm xuống nhìn. Dấu giày vải đế khâu chỉ vòng, nhiều, chồng lên nhau, đi đi về về. Dấu chân đất, to, ngón cái choãi ra, của người quen đi chân trần trên đá. Và một dấu dép quai gai, chỉ một, mờ, nằm sát mép phên, như của một người chỉ đến đây một lần rồi thôi. Cạnh đó, một bó đuốc tre cháy dở cắm nghiêng vào kẽ đá, đầu đuốc còn đen bóng nhựa thông.
Mùi bên trong ập ra trước. Mùi ẩm, mùi đất, và một thứ mùi chua chát như mùi nước vỏ cây ngâm lâu ngày. Anh đứng ở cửa cho mắt quen với bóng tối. Ánh sáng ngoài trời lọt vào chỉ được chừng mươi bước, rồi tắt dần trong lòng hang.
Hang không sâu như anh tưởng. Đó là một cái hốc đá rộng chừng hai gian nhà, trần thấp, nền đất nện lẫn đá vụn. Ở giữa hốc, ba cái chiếu cói trải sát nhau, trên ấy hai người đàn ông nằm ngủ, chăn chiên trùm kín đầu, ngáy đều đều. Chiếu thứ ba bỏ trống.
Thiết nín thở, đi sát vách, vòng qua họ.
Phía trong hốc là xưởng.
Mấy khối đá xám lấm tấm như vỏ trứng sáo, xếp sát vách, khối thì còn thô, khối đã đục được một nửa. Trên một cái bệ đá thấp, mấy phiến nêm đã xong nằm thành hàng, đầu to đầu nhỏ, giống hệt năm phiến anh đã sờ thấy ở bãi đá. Nhưng phiến ở đây chưa nhuộm. Mặt chúng xám nhạt, hơi ngả trắng. Cạnh bệ là hai cái chum sành to, miệng phủ mo cau. Anh nhấc một tấm mo lên. Trong chum là một thứ nước đen sẫm như mực, mùi chát chua bốc lên xộc mũi. Bên cạnh chum có một cái chổi lông gà đã nhuộm đen, mấy cái giẻ đen, và một rổ vỏ cây dẻ khô trộn lẫn mạt sắt gỉ đỏ quạch.
Thiết đứng nhìn hai cái chum, một lúc sau mới hiểu. Người ta đục những khối đá vôi xám này thành hình phiến nêm, rồi nhúng, rồi quét thứ nước đen kia lên, nhiều lớp, cho nó ngấm vào. Khô rồi thì đá ngả sang màu xanh sẫm, mịn, y như đá xanh mỏ tây. Ai không áp tai vào nghe, không lấy dao cào, không bỏ vào lò nung, thì không ai phân biệt được.
Trên vách hang, ngay trên cái bệ, có ai đó lấy mũi đục khắc lên mặt đá ong một hình. Ba đường lượn sóng, to bằng bàn tay. Khắc đi khắc lại nhiều lần, chồng lên nhau, như người tập viết chữ mẫu.
Người ta tập đục dấu của ông Tảo trên vách hang này.
Ở góc vách bên kia, ngang tầm mắt, có mấy hàng vạch than. Hàng đầu mười một vạch đứng, vạch nào cũng bị gạch chéo. Hàng thứ hai ba vạch, cũng gạch chéo. Hàng thứ ba năm vạch, có một vòng tròn khoanh quanh cả năm. Dưới cùng, nét than mới hơn, thêm hai vạch đứng chưa gạch. Thiết đếm hai lần. Mười một phiến nêm chân vòm tây, như dòng chữ nhỏ trong giấy kê của Thị lang Bành. Ba phiến nữa, như ba tiền ông Tảo lĩnh thừa hồi tháng Chín rồi mang trả. Năm phiến dự phòng, đã khiêng ra bãi kiểm. Và hai phiến đang làm.
Người ta vẫn còn đục. Mười mấy ngày sau khi vòm đã hợp.
Anh nhìn quanh tìm đồ nghề. Ở chân bệ có một cái bó đục buộc bằng dây gai, để dựa vào hòn đá. Anh cúi xuống, rút một cây ra. Cán đục bằng gỗ ổi, mòn bóng, nhưng mòn lệch. Chỗ tay nắm mòn sâu ở phía bên phải của cán. Người thuận tay phải nắm đục bằng tay trái, ngón cái tì vào bên trái cán. Người thuận tay trái thì ngược lại. Anh lật cán đục lên. Ở đầu cán có khắc một dấu nhỏ.
Chữ thập.
Anh cắm cây đục trở lại bó, đúng chỗ cũ.
Phía sau cái bệ, ở cuối hốc, có một cái khe đá hẹp chạy ngược lên, rộng vừa một người lách. Thiết cúi xuống nhìn. Nền khe là đá ong vàng, mủn, bụi vàng phủ một lớp dày như phấn. Trên lớp bụi ấy, sát miệng khe, có hai vết lõm tròn tròn, cách nhau chừng một gang. Như hai vết đầu gối. Ai đó đã quỳ ở chỗ này, lâu, xoay xoay người để nhìn qua khe đá xuống cái bệ và hai cái chum.
Anh ngồi xổm, đặt hai đầu gối mình vào hai vết lõm ấy. Vừa khít. Từ chỗ này nhìn ra, anh thấy được toàn bộ cái bệ đá, mấy phiến nêm, hai cái chum, và hình ba gợn sóng khắc trên vách. Còn người đứng ở chỗ cái bệ thì không thể thấy người quỳ trong khe tối.
Ông Tảo đã quỳ ở đây. Ông đã nhìn thấy tất cả những gì anh đang nhìn thấy. Tối hai mươi lăm, sau bữa cơm cuối cùng ở lán con gái, trước khi sang lán cha anh, trước khi lên cầu Hàn Khê.
Một trong hai người ngủ trở mình, lẩm bẩm câu gì đó. Tiếng nói lơ lớ, giọng vùng khác, không phải giọng người Thạch Bích. Thiết đứng im như tượng. Người ấy lại ngáy.
Anh rút dao, nhẹ nhàng nhặt ở chân bệ một mẩu đá vụn bằng bàn tay, một góc vỡ của phiến nêm nào đó đã được quét nước đen một mặt. Anh lấy mũi dao cào lên mặt đen. Lớp đen bong ra, để lộ một vệt trắng xám, rõ như vết phấn trên bảng. Anh nhét mẩu đá vào ngực áo, cạnh mảnh vôi nhỏ của ông Kim Thọ.
Đúng lúc ấy, một trong hai người ngủ ngồi dậy.
Thiết thụp xuống sau cái chum sành, nép sát vào vách. Mùi nước chát xộc lên mũi làm anh muốn hắt hơi. Anh bóp chặt sống mũi. Người kia ngồi trên chiếu, gãi đầu sồn sột, vươn vai, ngáp một cái thật dài. Rồi hắn với tay lấy cái ống bương đặt cạnh chiếu, ngửa cổ tu nước ừng ực. Nước chảy ra hai bên mép, nhỏ xuống ngực áo. Hắn uống xong, đặt ống bương xuống, nhìn đăm đăm vào khoảng tối nơi Thiết đang ngồi.
Thiết không thở.
Người ấy chép miệng, lầm bầm thêm một câu, rồi nằm vật xuống, kéo chăn trùm qua đầu. Một lúc sau, tiếng ngáy lại vang lên.
Rồi anh lùi ra, sát vách, vòng qua hai người đang ngủ, ra đến miệng hang.
Ánh sáng ban ngày làm anh lóa mắt. Anh nheo mắt lại, đứng nép vào vách đá ong ở cửa hang, nhìn lên sườn khe.
Trên vai núi, giọng Nghiên vẫn lanh lảnh, đang kể chuyện gì đó, có tiếng lính cười ồ. Nàng đang câu giờ cho anh. Nàng câu giỏi hơn anh tưởng.
Anh khom người, chạy về phía tảng đá nơi anh để đôi quang gánh.
Còn cách tảng đá chừng chục bước thì anh dừng lại, nằm rạp xuống sau một bụi sim.
Có người đang đứng ở chỗ tảng đá.
Một người đàn ông gầy, mặt dài, mặc áo nâu thợ, vai đeo một cái bao vải. Hắn vừa từ dưới đáy khe đi lên, theo lối mòn từ phía tường lăng, đúng cái lối ba bóng người đã đi xuống rạng sáng mùng một. Hắn dừng lại bên tảng đá, cúi xuống nhìn đôi quang gánh Thiết để đấy.
Bạch Văn Dụng.
Hắn cầm một bên quang lên, xoay xoay. Đó là đôi quang gánh mượn của lán cơm, ở mỗi đầu đòn gánh, Nghiên đã sơn một vòng tròn đỏ cho khỏi lẫn với quang gánh của các lán khác. Cả bãi Cỏ Gấu ai cũng biết cái vòng đỏ ấy.
Dụng nhìn cái vòng đỏ hồi lâu. Rồi hắn ngẩng lên, nhìn về phía vai núi, nơi có cái chòi gác, nơi giọng Nghiên vẫn đang lanh lảnh vọng xuống.
Hắn đặt đôi quang xuống, không đi vào hang nữa. Hắn quay người, đi ngược lên vai núi, về phía chòi.
— Hết chương 13 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe