AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Lò vôi số ba

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 11/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Lò vôi số ba

Lò số ba vừa ra mẻ. Thiết ngửi thấy trước khi nhìn thấy: cái mùi vôi sống mới ra lò, hăng, khô, xộc thẳng lên óc, khác hẳn mùi vôi tôi ở dưới hố.

Trời chưa sáng hẳn. Phía đông mới rạn một vệt xám mỏng trên đỉnh núi. Dốc Lò Vôi im lìm. Ca sáng phải đến giờ Thìn mới lên, còn ca đêm thì đã xuống lán ngủ từ canh năm. Bốn cái lò kia vẫn còn đỏ lửa, phả hơi nóng ra như bốn con trâu đang thở. Riêng lò số ba ở cuối dốc thì đã tắt, cửa lò mở toang, trong lòng lò còn rực lên một màu cam sẫm của than tàn.

Không có ai ở miệng lò.

– Chú Thọ.

Không ai trả lời. Anh gọi lại, to hơn. Tiếng anh vang lên giữa năm cái lò rồi chìm vào tiếng gió.

Anh đi một vòng quanh lò. Phía sau lò số ba có một cái hố vuông, sâu ngang thắt lưng, thành hố lát đá. Vôi sống ra lò được cào xuống đây cho nguội, rồi mới gánh đi tôi. Mẻ vôi đêm qua đã được cào xuống gần đầy hố, những cục vôi trắng xốp to bằng nắm tay chất thành đống, còn bốc hơi nóng hầm hập.

Ở giữa đống vôi, có một thứ màu nâu.

Thiết nhảy xuống hố. Vôi nóng ran dưới đế giày. Anh bới bằng hai tay, không kịp nghĩ đến bỏng, bới cho đến khi chạm được vào một bờ vai. Anh nắm lấy cái áo nâu, kéo lên. Người nặng, mềm, nóng hổi. Anh kéo mãi mới lôi được ông Kim Thọ ra khỏi đống vôi, lật ngửa lên thành hố.

Ông đã chết. Thiết biết ngay, không cần sờ mạch, không cần ghé tai nghe. Vôi phủ trắng nửa người ông, trắng cả mặt, cả tóc, như một bức tượng chưa đục xong.

Anh ngồi bệt xuống thành hố, thở dốc. Hai bàn tay anh rát bỏng. Anh nhúng tay vào cái chum nước đặt cạnh hố, nước lạnh làm vôi trên da xèo lên, đau như kim châm.

Rồi anh đứng dậy, bắt đầu nhìn.

Đất quanh hố vôi lúc nào cũng ướt, vì thợ hay dội nước cho bụi vôi khỏi bay. Lớp đất ướt ấy trộn với bụi vôi thành một thứ bùn trắng nhão. Trên bùn trắng có dấu chân. Dấu chân to bè, đế phẳng, có những đường chỉ khâu chạy vòng quanh mép đế như hình con rết. Đế giày vải. Không phải dép quai gai của thợ, cũng không phải chân đất của phu. Giày vải khâu đế là giày của lính lăng.

Anh đếm. Hai người. Một người chân to, giẫm sâu, mũi giày hơi xòe ra ngoài. Một người chân nhỏ hơn. Dấu chân của họ đi từ phía đường dốc xuống, vòng ra sau lò, dừng lại sát mép hố, rồi giẫm loạn lên nhau một chỗ. Rồi đi ngược lên dốc.

Ở chỗ giẫm loạn, có một vệt kéo dài. Như vệt của một người bị đẩy ngã ngửa ra sau, gót chân trượt trên bùn.

Thiết đứng lặng nhìn vệt kéo ấy. Rồi anh nhớ tới lời ông Kim Thọ đêm qua. Nó ở trong lò.

Anh đi ra phía trước, đến cửa lò. Cửa lò số ba là một cái vòm thấp bằng gạch đá ong, rộng chừng một người cúi. Bên trong, đáy lò lót một lớp than tàn còn hồng, trên đó còn sót lại mấy cục vôi chưa cào hết. Thiết lấy cái cào sắt dựng bên cửa, khều từng cục ra.

Cục thứ nhất, thứ hai, thứ ba, đều là những cục vôi tròn méo, xốp, nhẹ bỗng.

Cục thứ tư thì khác. Nó dài, một đầu to một đầu nhỏ, mặt bên phẳng. Nó không tròn méo như những cục khác. Nó có hình dạng của một vật đã được đục đẽo. Thiết khều nó ra tận miệng lò, lấy vạt áo bọc tay, nhấc lên.

Nó nhẹ như một miếng bánh đa. Màu trắng ngà, xốp, mặt ngoài đã rạn chân chim. Nhưng nó vẫn giữ nguyên dáng hình. Một cái nêm. Một đầu to, một đầu nhỏ, vát chéo. Anh xoay nó lại. Ở mặt dưới, mờ mờ trên lớp vôi trắng, vẫn còn ba đường lượn sóng, nông và nhòe, như dấu ngón tay in trên bột.

Anh đứng giữa dốc Lò Vôi, tay bọc vạt áo đỡ cái nêm vôi, và cuối cùng anh hiểu ông Kim Thọ muốn cho anh xem cái gì.

Đá xanh không nung ra vôi. Đá xanh bỏ vào lò nung ba ngày ba đêm, lấy ra vẫn là đá xanh, có khi nứt toác, có khi đen sạm, nhưng không bao giờ thành vôi. Chỉ có đá vôi mới thành vôi. Ông Kim Thọ đã lấy một phiến nêm mang dấu ba gợn sóng, bỏ vào mẻ lò đêm qua. Và nó đã thành vôi.

Phiến nêm ấy không phải đá xanh. Nó chỉ trông giống đá xanh.

Tiếng chân người vang lên ở đầu dốc. Nhiều người. Tiếng giày vải nện xuống đất, tiếng giáo chạm vào nhau lách cách. Thiết ngẩng lên. Một toán lính áo đỏ đang chạy xuống, đi đầu là Vạn Hữu Toàn.

Anh nhìn cái nêm vôi trong tay. Anh không có chỗ nào để giấu nó. Nó quá to để nhét vào tay áo, quá giòn để mang đi. Anh bước vội đến chỗ khuất sau lò, đặt nó xuống một gờ đá ong, rồi bẻ một góc nhỏ chỗ có dấu sóng, nhét vào trong ngực áo. Góc vôi vỡ ra trong tay anh thành bột, chỉ còn lại một mảnh bằng ngón tay.

Vạn đến nơi. Hắn nhìn cái xác bên thành hố, nhìn Thiết, rồi nhìn hai bàn tay đỏ tấy của Thiết.

– Bổ đầu Ứng. Sáng sớm ngươi ở đây làm gì?

– Ông Thọ hẹn tôi.

– Hẹn làm gì?

– Ông ấy chưa kịp nói.

Vạn cười khẩy. Hắn quay sang lính.

– Giữ nó lại. Người chết là thợ lăng, chết ở lò vôi của lăng. Có kẻ đứng cạnh xác lúc tờ mờ sáng, tay còn dính vôi. Giải về chờ Giám lăng.

Hai người lính bước tới, nắm lấy hai cánh tay Thiết. Anh không chống cự. Anh nhìn xuống chân họ. Một người đi giày vải đế khâu chỉ vòng như con rết, chân nhỏ. Người kia cũng giày vải, chân to hơn. Anh nhìn sang chân Vạn. Giày của Vạn to bè, mũi hơi xòe ra ngoài.

– Đội trưởng – Thiết nói, giọng bình thường. – Lò vôi nằm ngoài tường lăng, trên đất huyện. Đội trưởng giữ tôi trên đất huyện thì đội trưởng lấy quyền gì?

– Lấy cái quyền là ta có mười người, còn ngươi có một.

– Thế thì tôi ghi là đội trưởng giữ người huyện bằng mười người.

Vạn không trả lời. Hắn ra hiệu cho lính dẫn Thiết lên đầu dốc, rồi quay lại, đi vòng ra sau lò. Thiết ngoái cổ nhìn theo. Hắn dừng lại ở chỗ khuất, đúng chỗ gờ đá ong anh vừa đặt cái nêm vôi. Hắn đứng nhìn xuống rất lâu. Rồi hắn giơ chân lên, giẫm xuống.

Họ giữ Thiết ở cái chòi gác đầu dốc Lò Vôi gần một canh giờ. Hai người lính đứng canh cửa, không nói một lời. Qua khe vách, Thiết thấy phu ca sáng lục tục lên, thấy người ta khiêng ông Kim Thọ đặt lên một tấm phên tre, thấy Vạn chỉ trỏ ra lệnh. Rồi anh thấy người ta cào sạch đáy lò số ba, xúc hết vôi trong hố, gánh xuống đổ vào cái hố tôi to nhất. Nước trong hố sôi lên sùng sục, bốc hơi trắng xóa.

Anh biết cái nêm vôi trên gờ đá ong cũng đã theo đống vôi ấy xuống hố, đã sôi lên, đã tan ra. Anh đưa tay lên ngực áo, sờ vào mảnh vôi nhỏ bằng ngón tay vẫn còn nằm đó.

Gần giờ Tỵ thì có tiếng ngựa. Tri huyện Nhữ Đình Khang xuống ngựa ở đầu dốc, áo bào xộc xệch, theo sau là Mậu và ông Tòng. Thiết đoán Mậu đã chạy đi báo từ lúc thấy anh không có ở điếm.

Nhữ Đình Khang đi thẳng tới chòi gác. Hai người lính chắn cửa. Ông đứng trước mặt họ, cái mũ cánh chuồn lệch sang một bên, mặt trắng bệch. Thiết thấy tay ông run. Nhưng ông không lùi.

– Gọi đội trưởng của các ngươi ra đây.

Vạn đi tới, chắp tay thi lễ qua loa.

– Bẩm quan huyện.

– Đội trưởng Vạn. – Giọng Tri huyện cao lên, rồi ông nuốt khan, hạ xuống. – Lò vôi này nằm ngoài cột mốc. Đất này là đất huyện Thạch Bích. Người ngươi đang giữ là bổ đầu của huyện. Người chết kia chết trên đất huyện. Ta là Tri huyện. Ta đòi người, đòi cả xác.

– Công công…

– Công công muốn gì thì công công viết thư cho ta. Ta trả lời công công bằng thư. – Nhữ Đình Khang nói một mạch, như sợ dừng lại thì không nói được nữa. – Còn bây giờ, ngươi thả người ra. Bằng không thì ta về huyện viết sớ lên phủ Lô Giang, rằng lăng binh giữ quan lại của huyện trên đất của huyện, không có giấy tờ. Ngươi có giấy tờ không?

Vạn im lặng. Hắn nhìn Tri huyện hồi lâu, như nhìn một con gà vừa mổ người.

Rồi hắn hất hàm cho lính tránh ra.

Ra khỏi chòi, Thiết đi bên cạnh Tri huyện xuống dốc. Ông Nhữ đi rất nhanh, không nói gì. Đến khúc quanh khuất mắt lính, ông dừng lại, vịn tay vào một gốc cây, thở hổn hển.

– Ta nói thế có được không?

– Bẩm, được ạ.

– Ta sợ chết khiếp. – Ông lấy tay áo lau mồ hôi trên trán, dù trời lạnh. – Chú Thiết. Thế là hai người rồi đấy. Hai thợ cả trong mười ngày. Chú có thấy không?

Thiết thấy. Anh đã thấy từ lúc lật ông Kim Thọ lên thành hố. Lư Đức Tảo, thợ cả huyền cung, chết đêm hai mươi lăm. Kim Thọ, thợ cả huyền cung, chết đêm mùng ba rạng mùng bốn. Ứng Bá Lương, thợ cả huyền cung, đang bị cùm, chờ ngày xét.

Chín người. Mày đếm đi.

– Bẩm quan – anh nói. – Thuộc hạ muốn xin quan cho giữ xác ông Thọ ở điếm tuần ba ngày. Và cho ông Bàng khám.

– Được. – Tri huyện gật đầu, rồi ngập ngừng. – Mà chú Thiết. Chú tìm ra cái gì, thì chú nói cho ta biết trước. Đừng để ta đứng trước mặt lính lăng mà không biết mình đang cãi cái gì.

Chiều hôm ấy, ông Bàng khám xác ông Kim Thọ. Sau gáy không có vết dập. Nhưng hai cổ tay ông có hai vòng bầm tím nhạt, như bị người nắm chặt. Và ở ngực áo, chỗ túi, có một vết rách, như có người đã giật cái gì ra.

Chập tối, Thiết đến lán cơm. Anh kể cho Nghiên nghe về cái nêm vôi. Nàng nghe, không ngắt lời, tay vẫn đảo nồi canh. Khi anh kể xong, nàng im lặng một lúc lâu, rồi đặt muôi xuống.

– Tôi cũng có cái này cho ông xem.

Nàng dẫn anh đến trước vách thẻ tre. Thợ đã ăn tối gần hết, những cái thẻ đã được chuyển sang cọc "tối" gần đủ. Nàng chỉ vào hàng cọc "trưa". Trên hàng ấy chỉ còn treo đúng một cái thẻ. Vòng tròn có chấm ở giữa.

– Thẻ ông Tống Điếc – nàng nói. – Treo ở cọc trưa từ trưa hôm qua. Tối qua ông ấy không ăn. Sáng nay không ăn. Trưa nay không ăn. Ông Tống ăn khỏe nhất bãi, chưa bao giờ bỏ một bữa. Từ trưa hôm qua đến giờ, không ai thấy ông ấy đâu.

— Hết chương 11 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →