Chương 26: Thước ngà
– Tư Cối à? Ta đuổi nó rồi, cậu Ứng ạ. Đuổi từ hôm mười chín.
Mẫn Tư Hoằng nói thế, giọng buồn, tay vẫn mài mực. Chiều hai mươi lăm tháng Một, trời hanh, nắng vàng như mật ong trải trên hiên nhà khách. Gió thổi qua rừng thông sau nhà nghe như tiếng sóng xa. Ông ngồi bên cái bàn thấp, trên bàn là nghiên mực, ống bút, một xấp giấy dó. Mẩu đá vôi Thiết bỏ quên hôm mùng bảy nằm ngay ngắn trên một cái đĩa sứ nhỏ, như người ta bày một hòn non bộ.
Thiết đã đứng dưới sân rất lâu trước khi bước lên bậc thềm. Không có ai đón anh. Không có cái bóng đen trũi vai u nào đứng sau lưng chủ nhân. Mẫn đại nhân ngẩng lên thấy anh, cười, vẫy tay gọi lên, như gọi một người cháu.
– Đuổi vì sao, thưa đại nhân?
– Vì nó lấy tiền của người ta. – Ông đặt thỏi mực xuống. – Nó theo ta mười hai năm. Ta nhặt nó ở một bến đò dưới xuôi, hồi nó còn là thằng bé câm câm đói lả. Ta nuôi nó, dạy nó, nó không biết chữ nhưng tính toán nhanh hơn thư lại. Hôm mười tám, ta thấy trong tay nải nó có mấy nén bạc, không phải bạc của ta. Ta hỏi, nó không nói. Ta không cần nó nói. – Ông lắc đầu. – Người hầu ăn tiền của người khác thì không còn là người hầu của mình. Ta cho nó một quan, bảo nó đi.
– Đi đâu?
– Ta không hỏi. Ta không muốn biết. – Ông nhìn Thiết. – Cậu nghĩ nó dính vào việc đá trong huyền cung phải không?
Thiết không đáp. Anh nhìn mẩu đá vôi trên cái đĩa sứ.
– Ta cũng nghĩ thế – Mẫn đại nhân nói, khẽ như nói với mình. – Ta nghĩ mà không dám nghĩ tiếp. Mười hai năm. Ta vẽ huyền cung bốn năm, nó đi theo ta lên xuống núi này hai mươi bận. Nếu có ai bên bộ Công muốn ăn chênh đá mà cần một người biết đường trong lăng, biết giờ lính đổi phiên, thì không ai tiện hơn nó. – Ông thở dài. – Người già mù nhất là mù với người trong nhà.
Ông rót trà. Thiết ngồi xuống chiếc đôn đối diện. Lần đầu tiên anh ngồi ở đây mà không có Tư Cối đứng sau lưng, và anh thấy cái hiên nhà rộng ra, sáng ra, như một gian phòng vừa được dọn bớt một cái tủ.
– Cậu lên có việc gì?
– Bẩm, thuộc hạ lên báo đại nhân việc đêm hai mươi.
– Ta nghe rồi. – Ông đặt chén trà trước mặt anh. – Đèo Dốc Gió. Một thợ bị bắt, một thợ gãy chân. Ta nghe mà không ngủ được. Ai bày cho các người đi đường ấy?
– Thuộc hạ bày.
– Cậu liều quá. – Ông lắc đầu, nhưng mắt có vẻ thương. – Đáng lẽ cậu nói với ta trước. Ta có người quen ở phủ Hạ Xuyên, có thể cho người sang đón ở chân đèo bên kia. Cậu Ứng, ta biết cậu nghi bên Giám lăng. Ta cũng nghi. Đội trưởng Vạn bắt người trên đường muối là việc quá tay, ta đã nói với công công. Nhưng cậu không tin ai thì cậu chỉ có một mình.
Thiết uống ngụm trà. Trà nóng, thơm, đắng hậu.
– Hai người qua được đèo – Mẫn đại nhân nói tiếp. – Thợ Lộ và thợ Tứ phải không? Họ ở đâu bên ấy? Còn ông Tống Điếc nữa. Cả núi đồn ông ấy trốn, mà không ai biết trốn chỗ nào. Ông ấy điếc, lại sợ. Ta có thể cho người đưa cả ba sang phủ Hạ Xuyên, ở nhà một người bạn ta, đến khi xong lễ duyệt cung. Bên ấy không phải đất Lô Giang, lăng binh không vào được.
Ông nói rất chậm, rất êm, như người ta dỗ một đứa trẻ uống thuốc. Thiết nhìn ông. Mái tóc điểm bạc, bộ râu ba chòm, đôi mắt hiền. Người đã quỳ đỡ Nghiên dậy ở lán cơm. Người đã xin cho anh vào thăm cha. Người đã chép danh sách chín thợ cả, vẽ dấu từng người. Người ăn chay ba ngày cho ông Tảo.
Anh đã mở miệng. Chữ "Ba" đã ở trên đầu lưỡi.
Mẫn đại nhân rút cây thước ngà trong tay áo ra. Ông nhấc mẩu đá vôi khỏi cái đĩa sứ, cầm trong lòng bàn tay trái, và gõ khẽ đầu thước lên nó, như ông vẫn gõ vào mọi hòn đá ông gặp. Cộc. Cộc.
Tiếng gõ ngắn, đục, khô.
Như thầy lang gõ ngực người ốm, xem phổi rỗng hay đặc.
Thiết ngậm miệng lại. Chữ "Ba" trôi xuống cổ họng như một hòn sỏi.
– Đá vôi thì kêu thế – Mẫn đại nhân nói, nghiêng đầu nghe. – Ta gõ nó mỗi ngày, cậu ạ. Gõ để nhắc mình là trong huyền cung ta vẽ có thứ đá kêu như thế này. – Ông đặt mẩu đá về chỗ cũ. – Cậu định nói gì?
– Bẩm… – Thiết nhìn xuống chén trà. – Thuộc hạ định nói là thuộc hạ không biết hai người kia ở đâu. Sang bên kia đèo họ tự đi. Còn ông Tống, thuộc hạ chưa tìm được.
– Thế à. – Ông gật đầu, không hỏi thêm. – Nếu tìm được thì cho ta biết.
Đêm mùng mười, sau phiên xét, có người đứng ngoài chấn song chỗ giam Dụng, gõ lên cột cửa. Cộc, cộc. Không nói câu nào. Gõ một hồi rồi đi. Sáng hôm sau Dụng được thả về lán. Đêm hôm sau nữa Dụng mất, then cửa vẫn cài bên trong, tấm vách sau buộc nút hai vòng kiểu người dưới biển. Người ta nhặt Tư Cối ở một bến đò dưới xuôi.
Thiết ngồi im. Tay anh cầm chén trà không run. Anh đã ngồi xổm hàng canh giờ trước những vết đục, những dấu chân, những vệt kéo trên mặt đá. Anh biết ngồi im.
Mẫn đại nhân đã quay lại với tờ giấy dó trên bàn. Ông viết dở một bài thơ. Bốn câu, chữ thảo, nét bay mà đều. Thiết đọc ngược, từ chỗ anh ngồi.
Núi lạnh trăng soi cửa đá, Thông reo gió lọt cung sâu. Ba mươi năm áo vẫn trắng, Ngày về chẳng hẹn mà mau.
– Đại nhân làm thơ.
– Thơ dở, cậu đừng cười. Người già hay viết lăng nhăng. – Ông cầm bút lên, chấm thêm mực vào chữ cuối. – Ở trên núi này lâu, đêm nghe gió thổi qua thông, lại nhớ những ngày còn trẻ.
Chữ "cung" ở câu thứ hai có một nét móc dưới cùng, kéo dài ra, cong lên, thanh như đuôi chim én.
Thiết nhìn nét móc ấy rất lâu. Hai chữ "huyền cung" trên tờ giấy vàng trong ống tre, đêm mùng mười, dưới ngọn đèn dầu ở gian trong nhà Giám lăng. Mắt anh đã vấp một nhịp ở đó. Anh đã không nhớ ra mình vấp phải cái gì.
Bây giờ anh nhớ.
Anh không dám chắc. Một nét chữ nhớ lại sau mười lăm ngày, nhớ lại trong một gian phòng tối, nhớ lại qua cái mệt của một đêm không ngủ, thì không phải là chứng cứ. Đặt nó trước một vị quan thì nó chỉ là một cái cảm giác. Anh cần hai tờ giấy nằm cạnh nhau. Một tờ anh đang giữ trong ngực áo, tờ danh sách chín thợ cả. Tờ kia nằm trong cái ống tre vàng, trên cái khám thờ không có bài vị, trong một gian phòng mà người ta đã cấm anh không được bước vào nữa.
– Đại nhân viết chữ cung đẹp quá – anh nói, giọng bình thường.
– Lại cái tật ấy. – Mẫn đại nhân cười. – Cậu để ý mãi. Hồi trẻ thầy ta đánh mãi không bỏ được, cậu biết rồi.
– Đại nhân có dâng sớ về kinh được trả lời chưa?
– Chưa. – Ông thở dài. – Đường xa, trong kinh lại nhiều việc. Cuối năm bộ Công bận quyết toán, phủ Nội vụ thì lo lễ Tết. Sớ của một quan Khâm thiên giám về chuyện mấy phiến đá, chắc còn nằm dưới đáy chồng giấy nào đó. Ta đã gửi thêm một tờ hôm hai mươi, nhắc lại.
Không có ngựa trạm nào mang tờ gì của Khâm thiên giám từ đầu tháng đến giờ. Lão Ất trưởng trạm đã nói thế, sau một be rượu.
– Dạ.
Thiết đứng dậy. Anh cáo lui, vái chào. Mẫn đại nhân đứng dậy tiễn anh ra tận bậc thềm, như mọi lần.
– Cậu Ứng – ông nói khi Thiết đã xuống đến sân. – Ngày mười bảy tháng Chạp, cậu sẽ được đứng ở sân chầu, xem ngự giá. Ta đã xin công công cho cậu một chỗ. Một người như cậu đáng được thấy ngày ấy.
Thiết quay lại. Mẫn Tư Hoằng đứng trên bậc thềm, nắng chiều rọi từ phía sau lưng, cả người ông viền một đường sáng mỏng như người trong tranh. Ông cười, cái cười hiền như mọi khi.
– Đội ơn đại nhân.
Anh đi xuống thần đạo, giữa hai hàng tượng đá. Con voi đá đã có thân. Bốn ông quan văn đá vẫn đứng chắp hốt, mặt hiền như nhau. Anh không ngoái lại. Anh biết nếu ngoái lại, anh sẽ thấy ông ấy vẫn đứng đó, nhìn theo.
Đêm hai mươi lăm, trăng lên muộn, gần canh ba mới nhô khỏi rặng núi, mảnh như cái lưỡi liềm. Thiết ngủ ở điếm. Ông Tòng ngáy trên chõng. Ông Mười Rổ nằm trên phản, cái chân nẹp tre gác lên một cuộn chăn, thỉnh thoảng lại rên khẽ trong giấc ngủ.
Gần canh tư, thằng Ốc đập cửa.
– Anh bổ khoái! Anh bổ khoái ơi!
Thiết bật dậy. Thằng bé đứng ở cửa, chân đất, áo bông khoác vội, thở không ra hơi.
– Có người vào lán nhà cháu. Cháu thức dậy đi tiểu, cháu thấy có cái bóng ở gian cha cháu. Người ta đang moi cái ống giường. Cháu hét lên. Người ta chạy, chạy qua cửa sau, chạy về phía bắc. Chị cháu đang đuổi theo.
Thiết chạy. Anh chạy qua bãi Cỏ Gấu dưới ánh trăng lưỡi liềm, qua lán cơm tối om, đến lán nhà họ Lư. Ở cửa sau, Nghiên đang đứng, một tay cầm cái đèn dầu, một tay cầm con dao thái rau. Tóc nàng xoã. Nàng thở dốc.
– Mất dấu rồi – nàng nói. – Nó chạy vào rừng lau.
Thiết bước vào gian ông Tảo. Cái giường tre lồ ô bị lật ngửa. Thân tre rỗng ở mép trong đã bị rút ra, vứt lăn lóc dưới nền. Rỗng không.
– Bộ vòm…
– Không có trong ấy. – Nghiên bước vào sau anh, đặt đèn xuống. – Từ hôm anh mang miếng thứ mười ba về, em đã mang cả bộ sang lán cơm, giấu trên ngăn cao nhất của cái chạn. Cạnh cái bát sứt của cha.
Em. Nàng nói chữ ấy lần này không vấp. Có lẽ vì đang giận. Có lẽ vì nàng không để ý.
Thiết cầm đèn soi xuống nền. Trước bếp, nơi ông Tảo ngày trước hay ngồi đẽo gỗ, có một lớp tro mỏng vương ra từ cái bếp kiềng. Trên lớp tro ấy in rõ một dấu chân trần. To bè. Ngón cái choãi hẳn ra một bên.
– Nó biết cha em giấu đồ ở đâu – Nghiên nói, rất khẽ. – Ống giường. Cả bãi này ngoài nhà em ra thì chỉ có anh biết. Thế mà nó biết.
Thiết không trả lời. Anh đứng nhìn dấu chân trong tro rất lâu.
Trừ khi chính ông Tảo đã nói cho ai đó.
Một người thợ cả thấy vòm mình thờ đang tì vào một thứ không nên tì, thấy bản vẽ nói dối. Ông ấy đẽo một bộ vòm gỗ mười ba miếng để giảng cho người khác hiểu. Ông ấy mang nó sang lán bạn mình, bạn mình không cho giảng. Thế thì trước đó, hay sau đó, ông ấy sẽ mang nó đi giảng cho ai nữa?
Cho người đã vẽ ra cái vòm.
Thiết dập tắt ngọn đèn. Ngoài cửa sau, rừng lau xào xạc dưới mảnh trăng lưỡi liềm, như có ai vẫn đứng trong ấy, nhìn ra.
— Hết chương 26 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe