Chương 20: Đường muối qua đèo Dốc Gió
Cái then gỗ vẫn cài ngang cửa, đúng như Mậu nói. Nhưng tấm vách liếp phía sau giường thì đã bị ai đó tháo dây mây ra, nhấc lên, rồi buộc lại. Buộc khéo. Chỉ có điều nút buộc là nút thắt hai vòng kiểu người đi biển, còn cả dãy lán thợ cả này buộc nút một vòng kiểu người trên núi.
Thiết ngồi xổm ở sau lán Dụng rất lâu. Đất chỗ ấy ẩm vì khuất nắng, rêu mọc lún phún. Trên lớp đất ẩm có hai loại dấu chân. Một loại nhỏ, chân đất, gót lún sâu như người bị kéo đi mà cố ghì lại. Loại kia to bè, chân đất, ngón cái choãi ra hẳn về một bên. Anh đã thấy dấu chân như thế một lần, trước miệng hang Rùa, lẫn giữa những dấu giày vải của lính.
Hai người lính canh đứng sau lưng anh, mặt tái mét. Một người cứ lẩm bẩm mãi một câu: tôi không ngủ, tôi chỉ nhắm mắt.
– Đội trưởng Vạn biết chưa? – Thiết hỏi.
– Biết rồi. Đội trưởng bảo… – Người lính ngập ngừng. – Đội trưởng bảo lão ấy trốn. Bảo đuổi theo làm gì, thằng ăn cắp bạc lăng thì trốn là phải.
– Đội trưởng có lên xem không?
– Không ạ.
Thiết đứng dậy. Anh nhìn theo dấu chân to ngón choãi. Nó đi về phía bắc, về phía lối tắt sang sườn núi, rồi mất hút trong đám cỏ may.
Ông Tòng đợi anh ở điếm, đã đun sẵn nồi nước. Ông nghe Thiết kể, gật gù, rồi rót cho anh một bát.
– Người bị kéo đi bằng lối vách sau thì là bị người quen dắt. Người lạ thì phải phá cửa – ông nói. – Lão Dụng mở vách cho người ta, hoặc người ta biết lão nằm chỗ nào mà gỡ vách đúng chỗ ấy. Bổ đầu này. Lão hỏi thật. Ông Lương thì còn đến mùng năm tháng Chạp. Mấy ông thợ cả kia thì còn đến bao giờ?
Thiết nhìn ông. Anh không kể chuyện tờ giấy vàng cho ông Tòng. Nhưng ông Tòng sống năm mươi năm, đã đi khắp huyện, đã thấy người ta chết vì đủ thứ lý do. Ông không cần biết có tờ giấy.
– Không biết, chú Tòng ạ. Có khi chẳng còn đến hôm nào.
– Thế thì phải đưa đi.
– Đưa đi đường nào? Quan lộ có trạm. Đường sông có bến. Lăng binh đứng ở cả hai.
Ông Tòng vuốt râu. Ông nhìn ra cửa điếm, về phía rặng núi xanh thẫm phía tây nam, nơi một cái đèo thấp nằm võng xuống giữa hai đỉnh như cái yên ngựa.
– Đèo Dốc Gió – ông nói. – Đường muối.
Thiết biết cái đèo ấy, nhưng chưa từng đi. Ông Tòng thì đi rồi, từ hồi trẻ. Ông kể rằng muối từ dưới biển gánh lên phủ Lô Giang thì đi quan lộ, phải qua ba trạm, nộp ba lần thuế. Còn dân gánh muối lậu thì đi đèo Dốc Gió. Lên dốc mất nửa đêm, xuống bên kia là sang đất phủ Hạ Xuyên, không thuộc Lô Giang nữa. Đường hẹp, chỉ đi một người, có chỗ phải bám rễ cây mà leo. Lăng binh không ai biết đường ấy, vì lăng binh là người nơi khác đến.
– Lão có thằng em họ tên Cò, gánh muối đèo ấy hai mươi năm – ông Tòng nói. – Nó dẫn được.
– Đi đêm thì phải có trăng.
– Đi đêm thì phải không có trăng ở chân đèo, có trăng ở đỉnh đèo. – Ông Tòng cười, mấy cái răng còn lại vàng khè. – Đầu hôm tối để ra khỏi bãi, gần nửa đêm trăng lên để leo dốc. Ngày hai mươi. Trăng hai mươi lên vào giờ Hợi.
Chiều hôm ấy Thiết phi ngựa về huyện lỵ.
Huyện nha Thạch Bích nằm ở đầu trấn, cạnh bến sông Bích, một dãy nhà gạch thấp có cái cổng tam quan đã tróc sơn. Tri huyện Nhữ Đình Khang đang ngồi xử một vụ hai nhà tranh nhau một con bò. Ông nghe hai bên cãi nhau suốt nửa canh giờ, rồi phán con bò về nhà nào thì nhà ấy phải cho nhà kia mượn cày ba vụ. Hai bên đều không vui, đều về. Thiết đứng ở cuối công đường, nghĩ rằng cả đời ông Nhữ chắc chỉ mong được xử những vụ như thế.
Ông đưa Thiết vào buồng trong, đóng cửa.
– Lại chuyện gì nữa?
– Bẩm, thợ cả Bạch Văn Dụng mất tích đêm qua. Không phải trốn.
Ông Nhữ ngồi phịch xuống ghế.
– Người thứ ba.
– Bẩm, chưa biết sống chết.
– Người thứ ba – ông lặp lại, như không nghe thấy. Ông lấy tay xoa mặt. – Chú Thiết. Chú nói thật với ta. Ai đang làm việc này?
Thiết đã nghĩ suốt dọc đường về câu sẽ trả lời. Nghĩ đến bây giờ vẫn chưa ra.
– Bẩm quan, thuộc hạ không nói được.
– Vì sao?
– Vì nói ra thì quan cũng phải biết. Mà ai biết thì người ấy cũng nằm trong cái danh sách người ta đang đếm.
Ông Nhữ nhìn anh rất lâu. Mặt ông trắng đi, rồi ông gật đầu chầm chậm, như người vừa nuốt một miếng gì đắng mà không dám nhổ.
– Có phải bên Nội?
Thiết không đáp.
– Thôi. Ta không hỏi. – Ông đứng dậy, đi ra cửa sổ, nhìn xuống bến sông. Mấy con đò đang neo, khói bếp trên mui đò bay lên mỏng. – Thế chú muốn ta làm gì?
– Bẩm, xin quan cấp một tờ giấy đi đường. Sáu người phu, gánh hàng sang phủ Hạ Xuyên, có dấu huyện Thạch Bích. Không ghi tên.
– Không ghi tên thì giấy ấy là giấy gì?
– Là giấy cho người ở trạm bên kia đèo không giữ người mình lại hỏi. – Thiết ngừng một chút. – Bên kia đèo là đất phủ khác. Lăng binh không có quyền ở đấy. Người có giấy của huyện thì trạm bên ấy chỉ xem dấu rồi cho qua.
Ông Nhữ không quay lại. Thiết thấy bàn tay ông vịn vào khung cửa sổ, các đốt ngón tay trắng bệch.
– Chú có biết nếu có người hỏi, ai cấp giấy cho thợ lăng bỏ trốn, thì ta trả lời thế nào không?
– Bẩm, quan trả lời là quan cấp giấy cho sáu người phu. Thợ lăng thì quan không biết.
Ông Nhữ quay lại. Lần đầu tiên từ ngày Thiết biết ông, ông bật cười. Tiếng cười khô, ngắn, như tiếng cành củi gãy.
– Ta làm tri huyện sáu năm, chưa ký cái gì mà không đọc kỹ ba lượt. – Ông kéo tờ giấy trắng về phía mình, chấm bút. – Ngồi đấy. Ta ký cái này, rồi ta về nhà uống một chén rượu cho khỏi run tay.
Ông viết bằng chữ chân to, ngay ngắn, chậm. Viết xong, ông đóng dấu huyện, thổi cho khô, rồi gấp làm tư đưa cho Thiết.
– Chú Thiết. Ta ngồi cái ghế này đủ lâu rồi. Ngồi lâu quá, đít nó dính vào ghế, đứng dậy không được. – Ông ngừng, nhìn tờ giấy trong tay Thiết. – Thôi, chú đi đi. Ta nói nhảm.
Ngày mười bốn, Thiết đi gặp từng người.
Ông Mười Rổ đang ngồi ăn trầu trước cửa lán. Nghe xong, ông nhổ bã trầu, lấy tay áo chùi miệng, nhìn lên đỉnh Bàn Long hồi lâu.
– Sáu mươi lăm tuổi, đi đâu nữa hả cậu. Quê tôi ở dưới Lô Giang, vợ chết, con gái lấy chồng xa. Tôi định làm xong lăng này thì về nằm cạnh mộ vợ. – Ông ngừng. – Mà nằm cạnh mộ vợ thì cũng phải còn sống mà về. Ừ, đi thì đi.
Quan Đắc Lộ vừa khỏi ốm, mặt còn vàng như nghệ. Lộ ba mươi tám tuổi, dấu lá đề, người kín tiếng, có vợ và ba con ở làng bên kia sông. Lộ nghe Thiết nói, không hỏi một câu nào. Chỉ đến cuối, Lộ mới hỏi:
– Vợ con tôi có làm sao không?
– Người ta không đếm vợ con chú. Người ta chỉ đếm chín người.
– Thế thì tôi đi.
Cao Tứ ba mươi chín tuổi, dấu hai chấm, chưa vợ, cả bãi biết tiếng là hay đùa. Tứ nghe xong thì cười hì hì.
– Gánh muối thì tôi gánh được. Gánh muối lậu thì càng được. Mà cậu Thiết này, sang bên kia đèo người ta có cần thợ đá không? Hay tôi lại phải đi đục cối đá cho người ta giã gạo.
– Chú sống thì chú đục gì chẳng được.
Tứ tắt nụ cười. Lần đầu tiên Thiết thấy cái mặt hay đùa ấy nghiêm lại.
– Ừ. Sống thì đục gì chẳng được.
Lý Cốm là người cuối cùng. Cốm hai mươi chín tuổi, dấu cành trúc, thợ cả trẻ nhất huyền cung. Cốm đang ngồi đẽo một cái cán đục mới ở trước lán, mặt trẻ măng, tóc búi chưa gọn.
– Vợ em có mang – Cốm nói, tay vẫn đẽo. – Đến tháng Giêng thì đẻ. Em định làm xong việc lăng, lĩnh thưởng, về dựng cái nhà ba gian. Em đi rồi thì việc lăng ai làm, tiền thưởng ai lĩnh.
– Anh đi rồi thì đến tháng Giêng có người bế con.
Cốm ngẩng lên nhìn Thiết. Mắt Cốm mở to, như đến bây giờ mới hiểu ra hết.
– Ông Tảo, ông Thọ… Là vì thế à?
– Là vì thế.
Cốm ngồi im một lúc lâu. Lưỡi dao trong tay Cốm cắm vào cán đục, không đẽo nữa.
– Em đi.
Lán ông Lương là lán cuối. Thiết đến lúc chạng vạng. Cha anh vẫn ngồi trước khối đá lăn, đã mài nhẵn đến mức nó bóng lên như mặt nước. Ông nghe con trai kể kế đường muối, nghe tên bốn người sẽ đi, nghe ngày hai mươi. Ông không ngắt lời.
– Bốn đứa – ông nói khi Thiết dứt lời. – Mày đếm thiếu một.
– Con đếm cả cha.
– Tao không đi.
– Cha…
– Đá của tao, tao không bỏ dở. – Ông Lương đặt hòn đá mài xuống chậu nước. – Cửa đá hai cánh, đá lăn này, ở cả nước không ai làm được. Không phải tao khoe. Thằng Tảo mà còn thì nó làm được, thằng Tảo chết rồi. Tao bỏ đi thì cái cửa ấy đứng dở ở đấy đến ngày duyệt cung, người ta lấy gỗ đóng tạm vào. Cửa lăng vua mà đóng gỗ tạm.
– Ngày duyệt cung người ta không cần cửa nữa, cha. Người ta cần cha chết trước ngày ấy.
– Thế thì càng phải ở.
Thiết nhìn cha, không hiểu.
– Cái cáo thị bộ Lễ mày đọc cho công công nghe ấy – ông Lương nói. – Tao nghe người ta kể lại rồi. Chín thợ cả quỳ trong huyền cung đợi giá. Không được thay người. Mày đưa bốn đứa đi, thằng Tống trốn, thằng Dụng mất, thằng Tảo thằng Thọ chết. Đến ngày ấy, Hoàng thượng xuống huyền cung, quỳ dưới vòm đón người là ai?
– Thì không ai.
– Không ai. – Ông Lương gật đầu. – Thế thì Hoàng thượng hỏi han về đường đá, ai trả lời?
Thiết không nói được gì. Anh chưa từng nghĩ đến cái ngày ấy theo cách cha anh nghĩ. Anh chỉ nghĩ đến ngày mùng năm, ngày hạn của cái cửa, ngày cha anh hết việc.
Ông Lương cúi xuống, lau khối đá lăn bằng một mảnh vải ướt. Ánh chiều tà rọi lên mặt đá, lấp lánh.
– Mày muốn biết thằng Tảo nói gì với tao đêm hai lăm phải không – ông nói, giọng nhỏ đi, không ngẩng lên.
– Dạ.
– Nói ở đây thì mày không hiểu. Nói ở đây thì mày chỉ nghe được chữ. – Ông đứng dậy, cầm ống đục lên. – Chập tối mai, tao xuống huyền cung lau cửa đá. Tao được mang theo một đứa phụ việc. Mày lấy cái áo vá của lão Tòng mà mặc, lấy nhọ nồi mà bôi mặt, như hôm mày vào hang Rùa ấy. Tao biết hết, mày đừng tưởng tao không biết.
Ông đi vào lán, đóng cửa. Qua khe liếp, Thiết thấy ngọn đèn dầu được thắp lên, thấy bóng cha in trên vách, cúi xuống, cầm một cái gì đó lên, nhìn rất lâu, rồi đặt xuống.
— Hết chương 20 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe