Chương 15: Lệnh bài đỏ
Tri huyện Nhữ Đình Khang nhìn tấm lệnh bài như người ta nhìn một con rắn.
Mới mấy hôm trước ông đã đứng trước mười người lính ở dốc Lò Vôi mà nói được. Hôm ấy là đất huyện, người huyện, xác người chết trên đất huyện. Ông có luật để đứng lên. Còn hôm nay, cái thứ sơn son thếp vàng kia không phải luật. Nó là cái bóng của luật, là cái tay của người ngồi trên tất cả luật lệ. Lệnh bài Giám lăng do cung ban, đi tới đâu như chính người trong cung đi tới đó.
– Đội trưởng Vạn – ông nói, giọng cố giữ cho đều. – Bạch Văn Dụng là người làm chứng trong một án huyện đang xét.
– Bạch Văn Dụng là thợ có tên trong sổ lăng. – Vạn không hạ tay. – Thợ lăng thuộc Giám lăng. Giám lăng đòi về, ai giữ là khi quân. Quan huyện muốn hỏi gì thì viết thư lên Giám lăng, Giám lăng cho hỏi thì hỏi.
Nhữ Đình Khang quay lại nhìn Thiết. Thiết thấy trong mắt ông một câu hỏi, và anh thấy ông đã biết câu trả lời trước khi hỏi.
– Ta không cãi được cái này, chú Thiết.
– Bẩm, thuộc hạ biết.
Ông Tòng mở cửa gian buồng sau. Bạch Dụng đứng ở trong, nép vào góc vách, mặt xám như tro bếp. Thấy Vạn, hắn ngồi thụp xuống, hai tay ôm lấy cái cột tre.
– Cậu Thiết. Cậu bảo cậu cứu tôi.
Hai người lính bước vào, gỡ tay hắn ra khỏi cột. Hắn không chống, chỉ khóc. Họ dẫn hắn ra sân. Đi ngang qua Thiết, hắn túm lấy vạt áo anh.
– Cậu bảo cậu cứu tôi.
– Cháu sẽ đòi chú về – Thiết nói khẽ. – Chú nhớ những gì chú đã nói đêm qua. Chú đừng nhận cái gì khác.
Vạn kéo Dụng ra khỏi tay anh. Hắn ghé sát vào mặt Thiết, hạ giọng, chỉ đủ hai người nghe.
– Đêm qua nó nói gì với ngươi?
– Nó nói nó sợ.
Vạn nhìn anh thêm một lúc. Rồi hắn quay đi. Toán lính kéo Dụng lên dốc, rừng giáo nhấp nhô theo con đường dẫn vào cổng lăng. Thiết đứng ở sân điếm, tay đặt lên ngực áo. Tờ lời khai có dấu ngón cái trái của Dụng vẫn nằm ở đó. Vạn không hỏi đến nó. Vạn không biết có nó.
Tri huyện thở dài, ngồi phịch xuống bậc cửa.
– Kể cho ta nghe đi. Từ đầu. Đừng bỏ gì cả.
Thiết kể. Anh kể về năm phiến nêm ở bãi đá, về cái nêm vôi trong lò số ba, về hang Rùa, hai cái chum nước đen, dấu ba gợn sóng trên vách, những hàng vạch than. Anh kể về Dụng, về ba lạng bạc mỗi phiến, về người trên mà Dụng không biết mặt. Anh không kể về hai vệt kéo lê trên mặt cầu nửa bờ tây. Anh không kể về chiếc dép.
Tri huyện nghe xong thì ngồi im hồi lâu, hai tay đan vào nhau.
– Đá vôi trong huyền cung – ông lẩm bẩm. – Lăng vua. Chú có biết nếu chuyện này là thật thì nó lớn đến thế nào không? Không phải chuyện ăn bớt mật nữa. Đây là chuyện người ta lừa cả Hoàng thượng.
– Bẩm, thuộc hạ biết.
– Ta không xét được chuyện này. Huyện không xét được. Phủ cũng không xét được. – Ông đứng dậy, đi đi lại lại trước hiên. – Phải có người tâu lên. Mà tâu lên thì phải qua Giám lăng, qua bộ Công. Mà Giám lăng thì vừa sai người đến đòi Dụng về.
Thiết nghĩ tới một người khác.
Mẫn Tư Hoằng đang đứng ở hiên nhà khách, tay chắp sau lưng, nhìn ra rừng thông. Thấy Thiết theo sau Tư Cối đi vào, ông quay lại. Ông đã nghe chuyện. Cả núi Bàn Long đã nghe chuyện lính lăng kéo hai chục người xuống điếm tuần đòi một thợ cả.
– Cậu ngồi đi. – Ông không cười như mọi khi. – Kể ta nghe.
Thiết kể lại một lần nữa. Lần này anh kể ngắn hơn, nhưng không bỏ chỗ nào quan trọng. Anh đặt lên bàn mẩu đá vôi nhặt ở hang Rùa, lấy dao cào một đường cho ông xem vệt trắng.
Mẫn đại nhân cầm mẩu đá lên. Ông lật đi lật lại, đưa lên mũi ngửi, rồi rút cây thước ngà trong tay áo ra, gõ nhẹ. Tiếng "cộc" đục và ngắn. Ông đặt mẩu đá xuống, im lặng một hồi.
– Ta vẽ huyền cung bốn năm – cuối cùng ông nói. – Từng phiến, từng hàng. Ta không ngờ.
– Đại nhân có vẽ bản bổ sung mười một phiến nêm chân vòm tây không?
Ông ngẩng lên nhìn Thiết.
– Có. Ta vẽ. Tháng Tám, khi xây tới chân vòm tây, ta thấy đất ở đó lún hơn đất ở chân vòm đông, nên vẽ thêm một hàng nêm đá xanh chèn chân cho vững. Bộ Công duyệt, giao cho thợ Dụng. – Ông lắc đầu. – Ta vẽ đá xanh. Người ta làm bằng đá vôi.
– Vòm có sập không, thưa đại nhân?
Mẫn đại nhân nghĩ một lúc. Ông cầm bút lông, chấm mực, vẽ lên một tờ giấy dó một cái vòm cong. Ở chân vòm bên phải, ông vẽ thêm mấy cái hình nêm nhỏ.
– Đá vôi chịu nén cũng được, cậu ạ. Người ta vẫn xây nhà bằng đá vôi. Nhưng đá vôi không chịu được nước. Dưới lòng đất ẩm, nước thấm vào, vài chục năm thì đá vôi mủn, chân vòm lún dần. Một trăm năm, hai trăm năm, vòm sẽ nứt. – Ông đặt bút xuống. – Tội ăn bớt đá vào lăng vua là tội tày đình. Nhưng nó không làm chết ai ngày mai, ngày kia. Nó chỉ làm cho Hoàng thượng nằm dưới đất không yên sau một trăm năm.
Thiết nhìn bức vẽ. Một cái vòm đứng vững, chân bên phải hơi nghiêng.
– Thế sao lại có người chết vì nó?
– Vì kẻ ăn bớt sợ lộ. – Mẫn đại nhân nói chậm rãi. – Ăn bớt mật là tội mất chức. Ăn bớt đá trong huyền cung là tội chém cả nhà. Người ta có thể giết vì một tội chém cả nhà, cậu Ứng ạ. Ta sẽ dâng sớ. Ngay chiều nay ta cho ngựa trạm đi. Tố Thị lang Bành và đội trưởng Vạn lên bộ Công và phủ Nội vụ. Ta là quan Khâm thiên giám, ta có quyền tâu thẳng việc huyền cung.
– Đại nhân tố cả Thị lang Bành?
– Giấy kê do ông ấy duyệt, đá vào huyền cung qua tay bộ Công. Ông ấy không biết thì ông ấy cũng có tội không biết. – Mẫn đại nhân gấp tờ giấy vẽ vòm lại. – Còn lời khai của thợ Dụng, cậu có giữ lại gì không?
Thiết ngừng một chút.
– Thuộc hạ có ghi lại.
– Tốt. Giữ cho kỹ. Đến lúc người trong kinh xuống xét, đó là chứng cứ. – Ông dừng lại. – Còn ông Tống Điếc? Ta nghe nói ông ấy bỏ đi rồi. Cậu tìm thấy chưa?
– Chưa, thưa đại nhân.
– Nếu tìm thấy thì cho ta biết. Ông ấy điếc, lại sợ. Người như thế mà lang thang một mình thì dễ gặp chuyện. Ta có thể xin công công cho ông ấy về ở nhà khách, có Tư Cối trông nom.
Thiết gật đầu. Anh cảm ơn ông, đứng dậy cáo lui. Ra đến cửa, anh ngoái lại. Mẫn đại nhân vẫn ngồi bên bàn, tay cầm mẩu đá vôi anh để quên trên đó, mắt nhìn ra rừng thông. Tư Cối đứng sau lưng ông như một cái bóng.
Cùng lúc ấy, ở bãi Cỏ Gấu, thằng Ốc đang ngồi trên bậc cửa lán cơm, lấy que vẽ lên đất.
Nó vẽ ba đường ngoằn ngoèo, chạy từ ba phía, gặp nhau ở một điểm. Rồi nó vẽ mấy cái mái nhà nhỏ ở chỗ gặp nhau. Nghiên đang nhặt rau, liếc xuống.
– Mày vẽ cái gì?
– Cái làng ông Tống hay vẽ. – Thằng bé nói. – Ba con khe chảy vào nhau. Trên vách lán ông ấy có ba bức như thế. Bức nào cũng có một cái cây đa to ở chỗ ba khe gặp nhau, với một cái giếng.
Nghiên đặt rổ rau xuống.
Bà Gừng bán lạc ở đầu bãi đã bảy mươi tuổi, người làng Đồng Bến dưới xuôi, sống ở huyện Thạch Bích cả đời. Nghe Nghiên tả, bà gật đầu ngay.
– Ba Khe chứ gì. Làng Ba Khe. Xuôi suối Hàn Khê, qua hai cái đập, chỗ ba con khe đổ vào nhau thì có cây đa, có cái giếng làng xây đá ong. Đi bộ chừng một canh giờ. Ông Tống Điếc có đứa em gái lấy chồng ở đấy, cái Ngát, bán bánh đa. Tôi biết vì năm nào ông ấy cũng nhờ tôi gửi tiền xuống cho nó.
Nghiên giao bếp cho bà Gừng nấu bữa chiều. Nàng dắt thằng Ốc đi xuôi suối.
Làng Ba Khe nằm trong một thung lũng nhỏ, ruộng bậc thang đã gặt trơ gốc rạ, khói đốt đồng bay là là trên mặt nước. Cây đa ở ngã ba khe to như một cái đình, rễ phụ buông xuống thành từng chùm. Dưới gốc đa có một bà già ngồi bán bánh đa nướng trên cái lò than nhỏ.
Nghiên hỏi nhà cô Ngát. Bà già chỉ vào một cái ngõ nhỏ lát đá ong, cuối ngõ là ngôi nhà tranh ba gian có hàng rào dâm bụt.
Ra mở cổng là một người đàn bà trạc bốn mươi, mặt vuông, tay còn dính bột. Nghe Nghiên nói nàng là con gái ông Tảo nấu cơm ở lán thợ, người đàn bà ấy nhìn nàng rất lâu, nhìn cả thằng Ốc, rồi mới hé cổng.
– Anh tôi ở trong buồng. Từ chiều mùng ba đến giờ không ra khỏi buồng. Không ăn, không ngủ. Ai đến cũng trốn vào gầm giường. – Cô Ngát nói khẽ. – Cô làm gì thì làm, đừng làm anh tôi sợ thêm.
Ông Tống Điếc ngồi trong góc buồng tối, lưng dựa vào vách, hai tay ôm lấy bó đục. Thấy Nghiên, ông giật nảy người. Rồi ông nhận ra nàng. Nước mắt ông trào ra, chảy xuống hai bên má lởm chởm râu.
Nghiên ngồi xuống trước mặt ông. Nàng không nói gì, vì ông không nghe được. Nàng chỉ cầm lấy một bàn tay ông, nắm chặt.
Rồi nàng sai thằng Ốc chạy về bãi Cỏ Gấu tìm Thiết.
Thiết đến Ba Khe lúc mặt trời đã lặn sau núi. Thằng Ốc dẫn anh vào ngõ đá ong, mồ hôi nhễ nhại dù trời lạnh. Trong buồng, cô Ngát đã thắp một ngọn đèn dầu. Ông Tống vẫn ngồi trong góc, nhưng đã ăn hết một bát cháo. Nghiên ngồi bên cạnh ông.
Thấy Thiết, ông Tống lại co rúm người lại. Nghiên vỗ vỗ lên tay ông, chỉ vào Thiết, rồi chỉ ra phía bãi Cỏ Gấu, rồi chỉ vào cái cánh én nàng tự vẽ bằng ngón tay lên nền đất. Ông Tống nhìn cái hình cánh én. Rồi ông nhìn Thiết hồi lâu, nhìn hai bàn tay anh, như người ta nhận một cái dấu thợ.
Ông gật đầu.
Thiết ngồi xuống, đối diện ông. Anh nhặt một que củi nhỏ bên bếp, đưa cho ông. Rồi anh vẽ lên nền đất một cây cầu cong, bên dưới là mấy nét gợn sóng làm suối. Anh chỉ vào cây cầu, rồi chỉ vào ông Tống, rồi làm một dấu hỏi bằng tay.
Ông Tống cầm que củi. Bàn tay ông run lẩy bẩy. Ông nhìn cây cầu Thiết vẽ một hồi. Rồi ông bắt đầu vẽ.
Ông vẽ thêm vào cây cầu một người. Một người nhỏ, gầy, đang ngả người ra sau. Rồi ông vẽ thêm ba người nữa, to hơn, xúm quanh người nhỏ ấy, tay đưa ra, đẩy. Rồi ông dừng lại, nhìn những người mình vừa vẽ, nước mắt rơi xuống nền đất làm nhòe một nét.
Rồi ông vẽ thêm một người nữa.
Người thứ năm đứng riêng ra ở đầu cầu, cách xa bốn người kia. Người ấy không đẩy. Người ấy chỉ đứng. Một tay giơ lên, cầm một cái gì đó, ông Tống vẽ thành một vòng tròn có những tia nhỏ tỏa ra xung quanh.
Một ngọn đèn.
— Hết chương 15 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe