AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Vò mật pha nước giếng

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 4/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Vò mật pha nước giếng

– Vữa bở như bánh đúc. Cha tôi nói câu ấy suốt từ rằm tháng Chín đến giờ.

Nghiên vừa nói vừa thái hành, con dao băm xuống thớt đều như tiếng mõ. Sáng hai mươi tám, lán cơm đã vãn người. Ông Tảo nằm ở gian bên, phủ tấm vải trắng của Mẫn đại nhân, đầu giường thắp ba nén hương. Thằng Ốc ngồi bên chân cha, gập người lại như con tôm, ngủ gục từ lúc nào.

– Ông ấy có nói vữa ở đâu không? – Thiết hỏi.

– Vữa đâu thì cũng trộn ở dốc Lò Vôi mà ra. – Nàng gạt hành vào bát. – Cha tôi bảo hồi đầu xây, vữa trộn xong để qua đêm, sáng ra lấy dùi gõ kêu cong cong như gõ vào mặt trống. Dạo này để ba ngày vẫn bóp ra bột. Cha tôi lên phòng thư lại kêu hai lần. Lần thứ hai về, cha bảo: chúng nó bảo ông già lắm chuyện.

Thiết đứng dậy, cầm nón.

– Cô có biết cha cô kêu với ai ở phòng thư lại không?

– Thì cái ông có bộ râu lưa thưa như râu tôm, tay lúc nào cũng dính mực. Ông Kiểu.

Lại Văn Tòng đợi anh ở cửa điếm tuần. Ông là bổ khoái già nhất huyện, năm mươi tuổi, lưng còng, đi chậm như rùa, nhưng không có ngõ nào trong huyện Thạch Bích ông không biết, không có nhà nào ông không biết tên chó. Tri huyện sai ông xuống từ tối qua để Thiết có thêm người.

– Lên dốc Lò Vôi à? – Ông Tòng hỏi, chưa đợi Thiết nói. – Lão đoán thế. Người chết vì đá thì không phải đá giết. Người chết vì tiền thì mới phải đi tìm tiền.

– Chú biết gì về dốc Lò Vôi?

– Lão biết là ở đó có năm cái lò, ba trăm người, và một cái kho to như đình làng. Lão biết thêm là lò vôi thì nằm ngoài tường lăng, đất huyện, nhưng người làm thì là người của lăng. Mình lên đấy được, nhưng đụng vào cái gì thì phải nhẹ tay.

Dốc Lò Vôi nằm ở sườn đông nam núi Bàn Long, cách bãi Cỏ Gấu chừng một khắc đi bộ. Đi chưa tới nơi đã ngửi thấy mùi. Mùi vôi nung hăng xộc lên mũi, cay sè mắt, lẫn với mùi khói củi, mùi bùn, và một mùi ngòn ngọt khen khét như ai đang thắng đường. Năm cái lò xây bằng gạch đá ong, hình như năm cái chuông úp ngược, khói trắng bốc lên lững lờ. Dưới chân dốc là những hố tôi vôi to như ao, phu đàn ông cởi trần, quần xắn tận bẹn, cầm cào gỗ khuấy, người nào cũng trắng xóa từ đầu đến chân như vừa lăn trong bột.

Chỗ trộn vữa ở bên cạnh kho, một cái lán dài lợp tranh. Trong lán kê sáu cái máng gỗ to như thuyền thúng. Ở đầu lán, mấy người đàn bà đang nấu nếp trong những cái chảo gang lớn, nấu thật nhừ, nhừ thành nước cháo đặc sệt, rồi múc đổ vào máng. Bên cạnh là một dãy vò sành, miệng buộc lá chuối khô.

Thiết đi dọc dãy vò. Anh cởi dây một cái vò, giở lá chuối ra. Mật mía nâu sẫm. Anh thò ngón tay vào, nhấc lên.

Mật chảy tuột khỏi ngón tay anh, từng giọt nhỏ xuống như nước. Không dính. Không kéo sợi.

Anh nếm. Ngọt nhạt, lại hơi chua.

– Mật mía mà chảy như nước mắm thế này thì mía trồng ở đâu ra? – Ông Tòng ghé lại, ngửi ngửi. – Ở quê lão, mật mía đặc đến mức cắm cái đũa vào nó đứng im. Cái này thì cắm đũa vào nó bơi.

Một bà nấu nếp dừng tay, nhìn họ, rồi cúi xuống chảo, nói mà không ngẩng lên.

– Các ông là người huyện à?

– Dạ, bổ khoái huyện.

– Mật dạo này loãng thế đấy. Từ tháng Tám. Thư lại bảo năm nay mía mất mùa. Mà tôi ở làng mía, năm nay mía được mùa, thương lái ép giá xuống tận đáy. – Bà đảo chảo nếp, hơi nóng bốc lên che mặt. – Tôi nói thế thôi. Tôi không biết gì đâu.

Thiết đếm vò. Trong lán có mười một vò đầy. Sau lán, ở bãi đất trống, những vò rỗng được úp thành từng đống, chờ gánh trả cho người bán mật. Anh đi một vòng quanh đống vò rỗng, đếm. Rồi đếm lại.

Vừa đếm xong lần thứ hai thì có tiếng người gọi từ cửa kho.

– Ai cho các ông vào đây?

Một người đàn ông gầy gò, mặc áo dài the đen đã bạc màu, tay áo xắn lên để lộ hai cổ tay dính mực, đang hấp tấp đi tới. Bộ râu lưa thưa mấy sợi, run run theo từng bước chân. Ông Kiểu, thư lại phòng vật liệu của Thị lang Bành.

– Đất huyện thì người huyện được đi, thưa ông – Ông Tòng đáp, giọng hiền như đất. – Chúng tôi đang điều tra cái chết của ông Tảo, người hay lên phòng ông kêu về vữa.

Ông Kiểu khựng lại. Mặt ông trắng bệch ra rồi đỏ lên từng mảng.

– Ông Tảo kêu thì kêu. Thợ già hay kêu. Vữa là vữa theo đúng phép bộ Công, vôi, mật, nếp, cát, đong đủ từng đấu, có sổ có sách…

– Một tháng lăng mua bao nhiêu vò mật hả ông? – Thiết hỏi.

– Bốn mươi vò. Đúng bốn mươi. Có biên nhận của người bán, có dấu của quan Thị lang.

– Tháng này còn hai ngày nữa là hết. Trong lán có mười một vò chưa mở. Sau lán có mười chín vò rỗng. Mười một với mười chín là ba mươi. Còn mười vò nữa đâu, thưa ông?

Ông Kiểu đứng im. Cái miệng mở ra rồi khép lại.

– Có… có vò vỡ. Phu đánh vỡ. Chuyện thường.

– Vỡ mười vò trong một tháng thì phu ở đây vụng tay hơn cả con nít – Ông Tòng tủm tỉm. – Thế mảnh vò vỡ đâu, ông cho chúng tôi xem? Mảnh sành thì không cháy được, cũng không ai ăn được.

– Các ông… Các ông không có quyền xét sổ sách của bộ Công!

– Dạ, chúng tôi biết. – Thiết nói, giọng vẫn bình thường. – Chúng tôi không xét sổ. Chúng tôi chỉ đếm vò. Vò thì nằm trên đất huyện.

Ông Kiểu quay người bỏ đi, bước nhanh đến mức vấp vào một cái cào gỗ, suýt ngã. Ông không quay lại.

Ông Tòng nhìn theo, chép miệng.

– Cái người ấy không có gan giết ai đâu, bổ đầu. Người như thế ăn bớt thì được, giết người thì cầm dao còn run.

– Ông ấy không cầm dao. Nhưng người đứng sau ông ấy thì sao?

Họ đi xuống dốc. Thiết rẽ về phía cổng phụ của tường lăng, chỗ gần lò vôi nhất. Đoạn tường này mới xây từ tháng Tám, đá hộc chít vữa, còn trắng tinh. Anh dừng lại, ngồi xổm xuống chân tường, dùng móng tay cái cào vào một mạch vữa giữa hai hòn đá.

Vữa bong ra thành bột. Anh cào tiếp. Mạch vữa lõm vào sâu chừng một đốt ngón tay, bột trắng rơi lả tả xuống cỏ.

– Mới hai tháng mà đã thế – Ông Tòng nói khẽ.

– Đi với tôi.

Họ quay về suối Hàn Khê. Thiết lội xuống, đến bên trụ cầu bờ đông, cái trụ có dấu cánh én ở góc dưới. Trụ này xây ba năm trước, vữa cũng là vôi, mật, nếp, cát, bốn mùa ngâm nước. Anh lại lấy móng tay cào vào mạch vữa.

Không có gì bong ra. Móng tay anh trượt đi trên mặt vữa như trượt trên mặt đá. Anh lấy chuôi dao gõ. Một tiếng "cong" nhỏ, trong và chắc.

Anh đứng im trong nước lạnh, tay vẫn đặt trên trụ cầu. Cha anh xây cái trụ này. Ba năm trước, khi mật còn đặc, khi người ta chưa pha nước giếng vào vò mật để bán bớt ra chợ.

– Ông Tảo kêu về vữa – Thiết nói. – Kêu hai lần. Người ta bảo ông lắm chuyện. Rồi ông chết.

– Thế thì rõ rồi còn gì – Ông Tòng ngồi trên bờ, cởi giày ra đổ sỏi. – Ông Tảo biết ăn bớt mật, làm vữa bở, dọa lên kêu với bên trên. Người ăn bớt sợ, cho người khử ông đi. Ở đời người ta giết nhau vì ít hơn thế nhiều.

– Có thể.

– Bổ đầu không tin?

Thiết lội lên bờ, ngồi xuống cạnh ông.

– Tôi tin là có người ăn bớt mật. Nhưng ông Tảo dặn con gái là đi xem lại cái nêm, chứ không phải đi xem vữa. Và ông ấy bảo đá của cha tôi sai, chứ không bảo vữa của Thị lang sai. Mà cái trụ cầu của cha tôi thì chú vừa thấy rồi đấy. Không có gì sai.

Ông Tòng im lặng một lúc. Ông vốc nước suối lên rửa mặt, rồi vuốt cái râu bạc.

– Bổ đầu này. Lão sống năm mươi năm, lão rút ra được một điều. Một cái ao có khi có hai con cá. Mình câu được con này, đừng tưởng ao hết cá.

Chiều hôm ấy, Lại Văn Tòng đi dò hỏi trong chợ phiên dưới Gò, nơi lính lăng với phu hay xuống uống rượu, ăn lòng lợn. Đến chập tối ông về, kể rằng Thị lang Bành mới mua một ngôi nhà gạch năm gian ở phủ thành Lô Giang. Rằng ông có một nàng thiếp mới mười tám tuổi. Rằng người bán mật cho lăng là em vợ của ông Kiểu.

– Ăn bớt thì chắc rồi – ông Tòng kết luận, rót chén nước chè. – Còn giết người thì lão chưa biết.

Thiết ngồi bên bếp điếm, xoay xoay trong tay một mẩu vữa anh cạy ra từ chân tường lăng. Mẩu vữa trắng, nhẹ, bóp hai ngón tay là vỡ vụn. Anh nghĩ tới mười hai miếng gỗ mít trong ống giường của ông Tảo. Mười hai miếng gỗ không cần vữa. Một cái vòm dựng bằng những miếng tựa vào nhau, chỉ đứng được nếu không thiếu miếng nào.

Thiếu một miếng ở chân, thì cả vòm đổ. Vữa chẳng liên quan gì.

Ngoài sân có tiếng chân người. Mậu chạy vào trước, mặt căng thẳng.

– Anh Thiết. Có lính lăng.

Người lính bước vào sau Mậu, cúi đầu chào. Đó là thằng Bính. Nó cầm một tờ giấy gấp làm tư, trên có dấu son vuông vức.

– Bẩm bổ đầu Ứng. Giám lăng Phùng công công cho mời bổ đầu giờ Thìn sáng mai lên nhà Giám lăng. – Nó đọc như học thuộc lòng, rồi đặt tờ giấy lên bàn. – Đi một mình. Không mang đao.

– Biết rồi. Mày về đi.

Bính không về ngay. Nó đứng nán lại ở cửa, liếc ra ngoài sân tối, rồi bước nhanh lại sát bên Thiết, nói rất khẽ, khẽ đến mức Thiết phải nghiêng đầu mới nghe.

– Anh Thiết. Hôm kia đội trưởng gọi em vào. Đội trưởng hỏi em, lúc anh ngồi trên cầu, anh nhìn cái gì. Em bảo anh nhìn đá. Đội trưởng không tin. Đội trưởng cho người dội nước rửa cả cầu ngay lúc ấy.

– Thế mày nói thật hay nói dối?

– Em nói thật. Anh bảo em là anh nhìn đá. – Thằng bé nuốt nước bọt. – Nhưng anh Thiết ơi. Trước khi em về, đội trưởng còn hỏi em thêm một câu nữa. Đội trưởng hỏi em: thằng Thiết với lão Lương, cha con nó có hay gặp nhau không.

— Hết chương 4 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →