AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Không bọt nơi mũi miệng

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Không bọt nơi mũi miệng

Ông ngỗ tác Bàng Hữu Chí khám xác như người ta đọc một lá thư viết bằng chữ nhỏ: chậm, lẩm bẩm, thỉnh thoảng lại dừng, nheo mắt, rồi đọc lại từ đầu.

Ông lau mặt người chết bằng nắm bông thấm giấm, nhìn kỹ hai lỗ mũi, rồi khẽ ấn hai bên má cho miệng hé ra. Ông ghé sát, lâu tới mức Tri huyện Nhữ đứng ở cửa phải quay mặt đi. Rồi ông lần xuống ngực, xuống bụng, ấn tay lên bụng mấy chỗ, gõ gõ như người ta gõ quả dưa. Sau đó ông cầm hai bàn tay ông Tảo, banh từng ngón, soi vào kẽ móng dưới ánh sáng lọt qua cửa.

– Thế nào, lão Bàng? – Tri huyện hỏi, không quay lại.

– Bẩm quan, lão nói cái lão thấy, còn hiểu thế nào là việc của quan. – Ông già đặt bàn tay người chết xuống, nhẹ như đặt một cái bát. – Lão làm nghề bốn mươi năm, vớt người dưới sông Bích lên không biết bao nhiêu mà kể. Người còn thở mà rơi xuống nước thì vùng vẫy, uống nước, mũi miệng sùi bọt, bụng căng, tay quờ quạng thì nắm được cát được sỏi trong kẽ móng. Ông này mũi miệng sạch. Bụng xẹp. Móng tay không có một hạt sỏi.

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là lúc xuống nước, ông ấy không còn vùng vẫy nữa, bẩm quan. Đã chết rồi, hay ngất lịm đi, thì lão không dám nói chắc. Chỉ dám nói là không vùng.

Thiết ngồi xổm bên kia phản, không nói gì. Ông Bàng nhờ anh đỡ người chết nghiêng sang một bên. Tóc sau gáy ông Tảo đã khô, bết lại thành từng lọn. Ông ngỗ tác vạch tóc ra, ấn nhẹ ngón cái. Chỗ ấy mềm lún xuống.

– Có cái này nữa. Sau gáy dập một mảng to bằng lòng bàn tay. Ngã từ trên cầu xuống mà va đá thì thường va trán, va mặt, va vai, vì người ngã thì chúi về phía trước. Còn va sau gáy thì hoặc là ngã ngửa, hoặc là… – Ông dừng lại. – Hoặc là thôi, lão không nói nữa.

– Còn vết ở thái dương? – Thiết hỏi.

– Vết ấy nhỏ, nông, có khi là va thành cầu lúc rơi. Không phải cái làm chết người.

Ông ngỗ tác lần xuống chân. Chân phải để trần, gót chân trầy hai vệt dài, da tróc ra trắng bệch, mép vệt còn dính mấy hạt cát xanh xám. Chân trái vẫn đi chiếc dép quai gai. Ông Bàng tháo chiếc dép ra, lật lại. Gót dép mòn vẹt hẳn một bên, quai sau bục chỉ.

– Hai gót chân cùng trầy theo một chiều – Thiết nói khẽ. – Như người bị kéo lê.

Ông Bàng nhìn anh qua cặp kính đồng.

– Bổ đầu nói đấy nhé. Lão không nói.

Tri huyện Nhữ quay lại. Mặt ông tái đi, rồi đỏ lên.

– Lão Bàng, ghi đúng những gì lão thấy. Không thêm, không bớt. Ghi xong đưa ta xem. – Ông kéo vạt áo, bước ra sân, rồi ngoái lại. – Ứng bổ đầu. Giờ Thân ngày mai. Ta về huyện, quá giờ Ngọ mai ta xuống lại. Có gì thì cho người phi ngựa về báo.

Tiếng vó ngựa xa dần theo con đường đất đỏ dẫn ra quan lộ. Ông Bàng ngồi xuống bậc cửa, mở cái bầu rượu nhỏ đeo bên hông, tu một ngụm, rồi đưa cho Thiết. Thiết lắc đầu.

– Quan nhà mình hiền – ông già nói. – Hiền thì ở chỗ này khổ.

– Chú Bàng thấy thế nào? Thật lòng.

– Thật lòng hả? – Ông Bàng vặn nút bầu rượu lại. – Thật lòng lão thấy ông này bị đập một cái sau gáy ở đâu đó, rồi có người cầm hai nách lôi đi một quãng, gót chân kéo trên đá. Rồi người ta thả xuống suối. Mà thả vụng. Muốn cho trôi thì phải ném ra chỗ nước sâu giữa lòng. Đằng này nó dạt ngay vào bãi. Người làm việc này không quen việc này. Hoặc là vội.

– Hoặc là sợ.

– Hoặc là sợ – ông già gật gù. – Mà lão nói với bổ đầu thôi đấy. Lên công đường lão chỉ nói không có bọt, không có sỏi, sau gáy dập. Thế thôi.

Thiết để ông Bàng ngồi lại ghi chép, dặn Mậu canh cửa, rồi đi ra cầu.

Gần trưa, nắng đã lên, mặt suối Hàn Khê lấp lánh, nước trong đến mức đếm được từng viên sỏi dưới đáy. Hai người lính gác đầu cầu lúc sáng đã đổi phiên. Bây giờ chỉ còn một cậu lính trẻ, mặt non choẹt, ngồi trên lan can đá, bó gối, cây giáo dựng bên cạnh. Thiết nhận ra cậu ta. Thằng Bính con nhà bán đậu ở chợ huyện, năm ngoái bị bắt đi phu, rồi được tuyển vào lăng binh vì cao to.

– Anh Thiết – Bính đứng dậy, lúng túng. – Đội trưởng dặn không cho ai qua.

– Tôi không qua. Tôi đứng đây, nửa bên này.

Anh đi chầm chậm trên mặt cầu, từ đầu bờ đông về phía giữa. Cầu lát những phiến đá xanh vuông vức, mỗi phiến rộng hai gang, khít đến mức lưỡi dao không lọt. Mặt đá đã mòn nhẵn vì bốn năm nay ngày nào cũng có hàng trăm phu khiêng đá qua lại. Anh đi tới giữa cầu thì dừng. Đầu cầu bờ tây cách anh chừng mười bước. Chiếc dép quai gai lúc sáng vẫn còn mắc ở kẽ đá sát chân cột mốc mười bảy, quai trước đứt, cái đế lật ngửa lên trời.

Anh ngồi xổm xuống, nhìn dọc theo mặt cầu, sát mắt xuống đá như người thợ ngắm mặt phẳng. Ánh nắng chiếu xiên làm nổi lên những thứ mà đứng thẳng không thấy được. Trên mặt đá nửa bờ tây có hai vệt mờ mờ chạy song song, cách nhau chừng một gang, như ai vừa lấy hai ngón tay quệt bụi. Hai vệt chạy từ chân cột mốc ra tới gần giữa cầu, rồi tắt ở chỗ lan can thấp nhất.

Thiết ngồi im rất lâu.

Anh hiểu hai vệt ấy nghĩa là gì. Người ta kéo ông Tảo từ phía bên kia cột mốc, phía đất lăng, ra tới giữa cầu rồi mới đẩy qua lan can. Nếu anh nói ra điều ấy với Tri huyện, thì ông Tảo chết trên đất lăng. Mà chết trên đất lăng thì huyện không có quyền xét. Ngay chiều nay cái xác sẽ được khiêng đi, cái hòm sẽ được đóng, và người ta sẽ ghi hai chữ "ngã cầu" bằng mực son.

– Anh Thiết – Bính gọi khẽ. – Anh nhìn cái gì thế?

– Nhìn đá. – Anh đứng dậy, phủi tay. – Cầu này đẹp. Ai xây trụ, mày biết không?

– Nghe nói thợ cả Lương. Cha anh ấy à?

– Ừ.

Anh đi về bờ đông. Lúc xuống tới chân cầu, anh ngoái lại. Bính vẫn đứng nhìn theo anh, rồi cúi xuống nhìn mặt đá chỗ anh vừa ngồi, rồi lại ngẩng lên, mặt ngơ ngác.

Đến giờ Mùi, khi Thiết quay lại cầu lần nữa, chiếc dép quai gai ở chân cột mốc đã không còn. Hai vệt mờ trên mặt đá cũng không còn. Ai đó đã dội nước rửa cầu. Mặt đá ướt loang lổ, phơi dưới nắng, bốc hơi nhè nhẹ.

Bính đã đổi phiên. Người lính gác mới là một gã râu quai nón, ngồi bóc củ đậu ăn, thấy Thiết thì nhổ vỏ xuống suối, không thèm đứng dậy.

Thiết không hỏi gì. Anh đi thẳng sang lán cơm.

Lán cơm của Nghiên dựng ở giữa bãi Cỏ Gấu, mái tranh dài, vách đất, có ba cái bếp kiềng xây bằng đá hộc và một cái chạn tre to bằng nửa gian nhà. Giờ này thợ đã ăn trưa xong, lên núi cả. Trong lán chỉ còn mùi cơm cháy với mùi canh rau cải. Mấy cái nồi gang lớn úp ngược trên giá. Nghiên ngồi bên bếp, đang cắt chỉ khâu một cái áo nâu mới. Áo liệm. Thằng Ốc ngồi bên cạnh, xếp từng đôi đũa tre vào ống, không nói gì.

Nghiên không ngẩng lên khi thấy anh vào.

– Ông bổ đầu khám xong rồi à?

– Ngỗ tác khám xong. Cha cô không chết đuối.

Cây kim trong tay nàng dừng lại một chút, rồi lại chạy.

– Tôi biết. Tôi đã nói từ sáng.

– Cô nói cha cô không say. Còn tôi nói là cha cô không chết đuối. Hai cái khác nhau. – Anh ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện. – Tôi phải hỏi cô mấy câu. Có câu khó nghe.

– Ông cứ hỏi.

– Mấy hôm nay cha cô có nói gì lạ không? Có giận ai không? Có ai đến tìm không?

Nàng cắn đứt sợi chỉ, gấp cái áo lại, đặt lên đùi.

– Hôm hai mươi hai, cha tôi đi làm về, ăn cơm mà không nói câu nào. Tôi hỏi, cha bảo: có đứa nào mượn tên cha. Tôi hỏi mượn làm gì, cha bảo thôi, việc của thợ. Rồi mấy tối sau cha ngồi đẽo gỗ đến khuya.

– Đẽo gỗ?

– Cha tôi hay đẽo. Làm cái gì khó thì cha đẽo bằng gỗ trước cho nhỏ, xếp thử, rồi mới làm bằng đá. Cả đời cha thế. Tôi không để ý cha đẽo cái gì. Tôi bận nấu cho trăm bốn mươi người ăn, ông bổ đầu ạ.

– Còn câu cha cô dặn tối qua. "Đá của cha nó sai rồi." Cô hiểu thế nào?

Nàng ngẩng lên nhìn anh, lần đầu tiên từ lúc anh vào lán. Mắt nàng sưng mọng, nhưng ráo hoảnh.

– Tôi hiểu thế nào à? Tôi hiểu thế này. Cha ông là thợ cả huyền cung. Cha tôi cũng là thợ cả huyền cung. Cha tôi lên đấy xem lại cái gì đấy, rồi cha tôi không về. Trước khi đi, cha tôi bảo tôi đi tìm ông, bảo ông là đá của cha ông có chuyện. – Nàng nói chậm, rõ từng chữ. – Ông muốn biết đá của cha ông sai thế nào, thì ông đi hỏi cha ông. Sao lại hỏi tôi?

Thiết không trả lời. Anh ngồi thêm một lúc, nhìn ngọn lửa liu riu trong cái bếp kiềng còn ủ than. Rồi anh đứng dậy.

– Cô Nghiên. Chiều mai, quá giờ Thân, nếu tôi không tìm ra được cái gì, Tri huyện sẽ ghi là ngã cầu.

– Thế thì ông đi tìm đi. Còn ngồi đây làm gì.

Chạng vạng, Thiết leo lên dãy lán thợ cả ở mép trên của bãi Cỏ Gấu. Chín cái lán nhỏ dựng sát chân dốc, mái lợp lá cọ, mỗi lán một người. Thợ cả được ở riêng, không phải nằm chung với phu. Lán của cha anh ở cuối dãy, sát một gốc sau sau già đang trút lá đỏ.

Ông Ứng Bá Lương ngồi trên hòn đá kê trước cửa lán, đang mài đục. Một chậu nước, một hòn đá mài màu xanh xám, một bó đục đủ cỡ dựng trong ống tre. Ông mài thong thả, đều tay, tiếng xoèn xoẹt trong buổi chiều sắp tắt. Ông sáu mươi mốt tuổi, lưng còn thẳng, hai cánh tay còn rắn như gỗ nghiến. Bàn tay phải mất nửa đốt ngón út từ năm ông hai mươi tuổi.

Ông không ngẩng lên khi con trai đến.

– Cha.

Ông vẫn mài.

– Ông Tảo chết rồi, cha biết chưa?

– Cả núi này biết.

– Ngỗ tác bảo ông ấy không chết đuối. Có người đánh ông ấy sau gáy, rồi kéo ra cầu, rồi thả xuống.

Tiếng xoèn xoẹt dừng một nhịp. Rồi lại tiếp.

– Thì mày đi mà bắt. Mày là bổ đầu.

– Trước khi chết, ông Tảo dặn con gái ông ấy tìm con. Bảo con là đá của cha sai rồi.

Lần này cây đục dừng hẳn. Ông Lương ngẩng lên. Ánh chiều chiếu ngang khuôn mặt ông, những nếp nhăn sâu như vết đục trên đá cũ. Ông nhìn con trai hồi lâu.

– Đá của tao chưa bao giờ sai.

– Thế ông ấy nói thế là ý gì?

– Thằng Tảo nói gì thì đi mà hỏi thằng Tảo.

– Cha…

– Mày về đi. – Ông cúi xuống, nhúng cây đục vào chậu nước, rồi lại đặt lên đá mài. – Từ mai đừng lên núi này nữa. Huyện có bao nhiêu việc thì làm việc huyện. Việc của lăng, mày không đụng.

Thiết đứng nhìn tay cha. Bàn tay cầm đục vẫn đưa đi đưa lại trên mặt đá mài, nhưng lần đầu tiên trong đời anh nghe tiếng mài ấy lạc nhịp. Một đường dài, một đường ngắn, một đường trượt ra ngoài mép đá. Lưỡi đục kêu ré lên một tiếng khô khốc.

Ông Lương đặt cây đục xuống, nắm bàn tay phải lại, giấu vào trong lòng tay trái.

– Về đi, Thiết.

Đã mười bảy năm nay, từ ngày anh bỏ nghề, ông chưa gọi tên anh lấy một lần.

— Hết chương 2 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →