Chương 23: Đêm qua đèo
– Cháu cho ta xin bát cơm trắng, đĩa rau luộc. Hôm nay ta ăn chay.
Mẫn Tư Hoằng nói thế, giọng hiền, khi Nghiên bưng ra một đĩa cá kho. Sáng mười bảy tháng Một. Ông đến lán cơm từ lúc thợ đang ăn, như mọi lần, áo dài màu tro, khăn xếp, cây thước ngà giắt ở tay áo. Ông ngồi ở bàn thợ cả, chỗ ông Tảo vẫn ngồi ngày trước. Thợ dịch ra cho ông ngồi, ai cũng cúi đầu chào. Có người còn đứng dậy rót nước.
Nghiên mang đĩa cá đi, bưng ra bát rau muống luộc với đĩa đậu rán.
– Cảm ơn cháu. – Ông gắp miếng đậu, rồi nhìn quanh lán. – Dạo này lán vắng nhỉ. Ông Tống đâu không thấy?
– Ông ấy đi đâu cháu không biết, đại nhân ạ – Nghiên đáp, tay vẫn xới cơm cho người sau.
– Tội nghiệp. – Ông lắc đầu. – Người điếc mà đi lang thang.
Thiết ngồi ở góc lán, bát cơm trước mặt. Ông Tòng ngồi bên cạnh anh, nhai chậm rãi, mắt lim dim như ngủ. Mẫn đại nhân không nhìn sang góc ấy. Ông ăn hết bát cơm, uống bát nước chè, đặt lên bàn mấy đồng tiền nhiều hơn giá bữa cơm, rồi đứng dậy.
Lúc ông đi ra, Thiết nhìn theo. Tư Cối đứng đợi ở ngoài cửa lán như mọi khi, khoanh tay trước ngực. Sáng nay sương muối xuống dày, cỏ quanh bãi trắng như rắc bột. Tư Cối đứng trên lớp sương ấy bằng hai bàn chân trần. Bàn chân đen, to bè, gân guốc. Ngón cái chân phải choãi hẳn ra một bên như cái ngón tay cái giơ lên.
Hai người đi khuất sau dãy lán. Ông Tòng mở mắt.
– Ngày mười bảy – ông lẩm bẩm.
– Sao chú?
– Ăn chay ngày mười bảy. Lạ. – Ông gắp miếng cà. – Lão sống năm mươi năm, thấy người ta chay mùng một, chay rằm. Có người chay mùng tám, hăm ba theo nhà chùa. Chứ chay ngày mười bảy thì lão mới thấy một người.
– Ông ấy bảo vì một lời nguyện cũ.
– Nguyện thì nguyện. – Ông Tòng nhai thêm một lúc. – Lão chỉ thấy lạ, lão nói thế thôi. Già rồi hay để ý chuyện vặt.
Thiết không nói gì. Anh ra ngoài cửa lán, nhìn xuống lớp sương muối. Trên ấy còn in rõ hai dấu chân trần, to bè, ngón cái choãi.
Ba ngày sau đó, Thiết với ông Tòng chuẩn bị đường đi.
Ông Tòng về làng gặp Lại Cò. Cò bốn mươi lăm tuổi, gầy như cái que, đen như cột nhà cháy, cả đời gánh muối qua đèo Dốc Gió, biết từng gốc cây, từng tảng đá. Cò nghe xong chỉ hỏi một câu: có ai đuổi không. Ông Tòng bảo có thể. Cò bảo thế thì phải đi nhanh, và không ai được mang thứ gì kêu leng keng.
Nghiên nắm cơm. Mười hai nắm cơm nếp to bằng nắm tay, bọc lá chuối, kèm mấy gói muối vừng và một ống bương nước cho mỗi người. Nàng nấu xong từ chiều hai mươi, giấu trong cái chạn tre của lán cơm.
Lúc trao cái tay nải cho Thiết, nàng nói:
– Anh về thì ghé lán. Em, tôi để phần cháo.
Nàng nói vấp ở giữa câu. Thiết nhìn nàng. Nàng đã quay đi.
Giờ Tuất ngày hai mươi, trời tối như mực. Không trăng, không gió. Sương đã xuống từ chập tối. Bốn người thợ cả đến điếm tuần bằng bốn lối khác nhau, mỗi người một cái tay nải nhỏ, đội nón, mặc áo nâu như phu. Ông Mười Rổ đến trước, chống cái gậy tre. Lộ đến sau, im lặng như mọi khi. Tứ đến, khẽ huýt một tiếng sáo rồi bị ông Tòng gõ vào đầu. Cốm đến cuối cùng, mắt đỏ hoe, chắc vừa nhờ người nhắn về làng cho vợ.
Mậu đi cùng Thiết. Ông Tòng ở lại điếm, vì lưng ông không leo nổi đèo.
– Chú ở đây – Thiết dặn. – Sáng mai ai hỏi thì bảo bốn ông ấy đi ăn giỗ ở làng.
– Giỗ ai?
– Chú nghĩ hộ cháu.
Họ đi.
Lại Cò đợi ở chân đèo, chỗ con suối nhỏ chảy ra từ khe núi phía tây nam. Đường đến đấy phải đi qua một cánh đồng gốc rạ, rồi một rừng tre, rồi một cái bãi đá cuội. Không ai cầm đèn. Lại Cò đi trước, rồi đến ông Mười Rổ, Lộ, Tứ, Cốm, Mậu. Thiết đi sau cùng.
Con đường muối đúng như ông Tòng tả. Hẹp, một người đi. Hai bên là rừng sau sau, rừng dẻ, lá rụng dày dưới chân, giẫm lên mềm như đi trên đệm. Rồi đến đoạn dốc. Lại Cò bảo cả bọn bám rễ cây mà leo, bám rễ chứ đừng bám cành, cành gãy. Ông Mười Rổ thở như ống bễ, nhưng không kêu một tiếng. Tứ đi sau ông, thỉnh thoảng lại đưa tay đẩy lưng ông lên.
– Chú Mười – Tứ thì thào. – Sang bên kia chú làm gì? Đục cối đá với tôi.
– Đục cối đá cho mày chứ gì. Mày ăn hết gạo người ta.
Ai cũng muốn cười mà không ai dám.
Cốm đi sau Tứ, im lặng. Thiết nghe tiếng Cốm thở, tiếng Cốm lẩm bẩm điều gì đó nhiều lần, như người tụng. Đến một chỗ nghỉ, Thiết hỏi.
– Anh đọc gì thế?
– Tên. – Cốm cười ngượng. – Em với vợ em chọn hai cái tên cho con. Trai thì tên Bền. Gái thì tên Mít, vì vợ em thèm mít. Em đọc cho khỏi quên.
Gần giờ Hợi, họ lên tới lưng đèo. Ở đây rừng thưa ra, chỉ còn cỏ tranh cao ngang ngực và những tảng đá to nằm rải rác như đàn trâu ngủ. Gió bắt đầu thổi, lạnh buốt. Lại Cò dừng lại, chỉ lên phía trước.
– Qua cái yên đèo kia là sang Hạ Xuyên. Còn chừng nửa canh giờ.
Đúng lúc ấy, ở phía đông, sau lưng họ, trăng lên.
Trăng hai mươi đã khuyết một mảng, như cái bánh đa bị cắn dở. Nó nhô lên khỏi rặng núi, vàng đục, rồi sáng dần. Cả sườn đèo hiện ra dưới ánh trăng, từng ngọn cỏ tranh bạc trắng. Ông Tòng đã tính đúng: đầu hôm tối để ra khỏi bãi, nửa đêm có trăng để leo nốt.
Nhưng trăng lên thì không chỉ họ thấy đường.
Thiết nghe thấy trước tất cả mọi người. Không phải tiếng chân. Tiếng sắt chạm vào đá. Một tiếng. Rồi im.
– Nằm xuống – anh nói khẽ.
Cả bọn nằm rạp trong đám cỏ tranh. Lại Cò bò lên trước, nấp sau một tảng đá, ngó qua. Rồi bò lại, mặt trắng bệch dưới trăng.
– Có người ở yên đèo. Đứng chắn ngang đường. Mười, mười hai người. Áo đỏ.
Lăng binh.
Thiết nằm im, đầu óc chạy nhanh như nước suối mùa lũ. Đường muối này lăng binh không biết. Ông Tòng nói thế. Cò nói thế. Mà mười hai lăng binh đang đứng ở đúng cái yên đèo mà họ phải qua, vào đúng cái giờ họ đến.
– Quay lại – anh nói. – Xuống.
– Xuống thì chúng nó ở đằng sau thì sao? – Mậu thì thào.
– Thì mình biết.
Họ chưa kịp quay đầu thì phía dưới, ở cái khúc dốc vừa leo qua, đuốc bừng lên. Ba bó đuốc. Rồi năm bó. Một giọng ồm ồm dội lên vách núi, mà Thiết nghe ra ngay từ chữ đầu.
– Bổ đầu Ứng. Ngươi ra đây.
Vạn Hữu Toàn.
– Ta không bắt ngươi – Vạn nói to. – Ngươi không có tên trong giấy của ta. Ta chỉ đến lấy người của lăng về. Bốn người. Ngươi để họ lại, ngươi đi.
Không ai trong đám cỏ nhúc nhích.
Thiết quay sang Lại Cò, ghé sát tai.
– Có lối nào khác không?
– Có. – Cò thở gấp. – Bên trái, chỗ khe đá. Không phải đường, là chỗ nước chảy mùa mưa. Trượt chân thì xuống vực. Đi được một người một.
– Chú dẫn đi. Ai theo được thì theo. Tôi với Mậu giữ đằng này.
Lại Cò bò đi. Lộ bò theo ngay. Tứ quay lại kéo ông Mười Rổ.
– Chú Mười. Đi.
– Mày đi đi. – Ông già lắc đầu. – Đầu gối tao không bò được.
– Thì tôi cõng.
Tứ cõng ông Mười Rổ lên lưng, bò bằng hai tay, như con rùa cõng hòn đá. Cốm bò theo sau.
Thiết đứng dậy. Mậu đứng dậy theo anh. Hai người bước ra khỏi đám cỏ tranh, ra giữa con đường mòn bạc trắng dưới trăng, đứng chắn giữa đám đuốc phía dưới và cái khe đá phía trái.
– Đội trưởng – Thiết nói to. – Người của lăng nào? Tôi đang đi với mấy người gánh muối, có giấy huyện.
– Ngươi đừng giở trò. – Vạn bước lên, đuốc soi đỏ một bên mặt hắn. – Lui ra.
– Đội trưởng lấy giấy gì mà bắt người trên đường muối, ngoài cột mốc, đất phủ Lô Giang?
– Lấy cái giấy mà ngươi đã đọc rồi đấy.
Thiết đứng im. Vạn biết. Vạn biết anh đã đọc tờ giấy trong ống vàng.
Ở phía yên đèo, đám lính trên ấy đã thấy động. Đuốc trên ấy cũng bừng lên, rồi bắt đầu chạy xuống. Lính hai đầu kẹp lại. Thiết nghe sau lưng tiếng đá lở lạo xạo ở phía khe, tiếng ai đó kêu lên một tiếng nghẹn, rồi một tiếng gì đó như cành cây khô gãy rắc.
Rồi mọi thứ xảy ra cùng một lúc. Lính từ trên đổ xuống, lính từ dưới xông lên. Thiết bị xô ngã, lăn xuống bờ cỏ, một cái cán giáo đập vào vai anh, đau tê dại cả cánh tay. Mậu hét lên đâu đó. Đuốc chao đảo, lửa bắn tung tóe. Anh vùng dậy, chạy về phía khe đá.
Ở miệng khe, ông Mười Rổ nằm nghiêng trên một tảng đá, một chân gập lại thành một góc kỳ quặc. Tứ đang cố kéo ông lên. Cốm không còn ở đó. Ở phía trên, chỗ con đường, hai người lính đang lôi một người đi ngược lên, người ấy giãy giụa, một chiếc nón rơi xuống, lăn lông lốc theo dốc.
– Cốm! – Tứ gào lên.
– Chú đi đi – Thiết nói, đẩy Tứ về phía khe. – Đi theo chú Cò. Ông Mười để tôi.
– Không…
– Đi! Chú mà bị bắt nữa thì mất hai người!
Tứ nhìn anh một nhịp. Rồi Tứ quay người, lao vào bóng tối của khe đá, theo bóng Lộ và Lại Cò đã khuất ở phía dưới.
Thiết quỳ xuống bên ông Mười Rổ. Ông già nghiến răng, mặt nhăn như quả táo khô, nhưng không kêu.
– Chân tôi gãy rồi, cậu ạ – ông thì thào. – Nghe nó kêu rắc một cái.
– Cháu cõng.
Mậu chạy tới, áo rách một vai, má sưng. Hai người đỡ ông Mười Rổ lên lưng Thiết. Ở phía trên, Vạn đứng giữa đám đuốc, nhìn xuống. Hắn không đuổi theo nữa. Hắn đã có một người.
– Bổ đầu Ứng – hắn nói, giọng không còn to. – Ngươi về mà hỏi xem. Đường muối này lăng binh không biết. Người báo cho ta không phải người của ta.
Rồi đám đuốc quay lên yên đèo, kéo theo Lý Cốm.
Họ về đến điếm tuần lúc gần sáng, ông Mười Rổ trên lưng Thiết, Mậu đi bên cạnh đỡ. Ông Tòng chạy đi gọi ông Bàng. Ông Bàng nẹp chân cho ông Mười Rổ bằng hai thanh tre và vải băng, vừa nẹp vừa lẩm bẩm chửi cái lăng vua, chửi cả đèo Dốc Gió.
Nghiên đến lúc trời hửng, mang theo nồi cháo. Nàng nghe Mậu kể, đặt nồi cháo xuống, không nói gì. Thằng Ốc đi sau chị. Nó đứng ở cửa điếm, nhìn ông Mười Rổ nằm trên phản, nhìn cái vai sưng tấy của Thiết. Rồi nó kéo tay áo anh, kéo ra ngoài sân.
– Anh bổ khoái – nó nói nhỏ. – Cháu quên chưa nói. Chiều hôm kia cháu ra bến nước đầu đường muối bắt cua. Cháu thấy ông đen đen vai to của Mẫn đại nhân. Ông ấy đứng nói chuyện với ông lính mặt rỗ. Ông ấy không nói nhiều. Ông ấy chỉ tay lên núi, chỉ đúng chỗ cái đèo. Rồi ông ấy đưa cho ông lính một cái gói nhỏ.
— Hết chương 23 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe