Chương 36: Hai nét cánh én
Mẩu gỗ nhỏ bằng hai đốt ngón tay, đen bóng vì tay người cầm, và trên mặt nó có nửa nét cong, vụng, nông, lệch về một bên.
– Mày đục năm mười hai tuổi – ông Lương nói. – Tao cầm tay mày. Mày gõ trượt hai nhát.
Tháng Ba năm sau, đào nở khắp núi Bàn Long.
Không phải đào trồng. Đào rừng, mọc tự nhiên ở sườn đông, hoa nhỏ, cánh mỏng, hồng nhạt như má trẻ con mới ngủ dậy. Cả sườn núi từ dốc Lò Vôi xuống đến bãi Cỏ Gấu như ai rắc một lớp phấn hồng lên. Gió thổi, cánh hoa bay lả tả xuống mặt suối Hàn Khê, trôi đi từng vệt.
Bãi Cỏ Gấu đã vắng đi quá nửa. Từ sau Tết, thợ lục tục về quê. Lăng không xây thêm. Hoàng thượng đã có chỉ: tường lăng, thần đạo, tượng đá làm cho xong, rồi thôi. Nửa vòm phía trong huyền cung để nguyên như thế. Hai nghìn phu dịch giờ chỉ còn vài trăm. Năm cái lò vôi tắt bốn. Mấy dãy lán phu đã dỡ, chỉ còn lại những khoảnh đất vuông nện chặt, cỏ non đang mọc lên.
Thiết leo lên dãy lán thợ cả lúc gần trưa. Chín cái lán, giờ chỉ còn ba cái có người. Lán ông Mười Rổ, lán ông Tống, và cái lán cuối dãy, cạnh gốc sau sau đã ra lá non.
Cha anh ngồi trên hòn đá kê trước cửa lán, như mọi lần. Trước mặt ông không có khối đá nào. Chỉ có cái ống đục cán gỗ ổi, và mẩu gỗ đen bóng ấy.
– Cha giữ nó hai mươi hai năm.
– Tao bỏ trong ống đục. – Ông Lương xoay mẩu gỗ trong tay. – Hôm mày đi, tao định ném nó vào bếp. Tao cầm lên mấy lần. Rồi tao bỏ vào ống đục. Ống đục thì tao không bao giờ để xa.
Ông rút một cây đục nhỏ nhất ra khỏi ống. Cây đục lưỡi nhọn, mảnh như cái kim khâu. Ông đặt mẩu gỗ lên đầu gối, cầm cái búa con.
Thiết ngồi xuống bên cạnh cha. Anh nhìn bàn tay phải mất nửa đốt ngón út cầm cây đục, đặt mũi đục lên mặt gỗ, ngay cạnh nửa nét cong vụng về năm xưa. Ông gõ. Nhẹ, đều, không nhanh. Một nét cong thứ hai mở ra từ đầu nét cong thứ nhất, dang sang phía bên kia. Sâu ở đầu trái, nông dần về đầu phải. Đường đục đều như người ta kẻ bằng thước.
Ông thổi bụi gỗ đi.
Trên mẩu gỗ đen bóng giờ có hai nét cong, chung một gốc, dang ra hai bên như hai cánh của một con chim đang lượn. Một nét vụng. Một nét đều.
– Dấu của tao là một nét – ông Lương nói. – Cánh én bay nghiêng. Dấu này hai nét. Cánh én bay thẳng. – Ông đặt mẩu gỗ vào lòng bàn tay con. – Dấu của mày. Đăng ở đâu thì tùy mày.
Thiết nhìn mẩu gỗ.
– Con là bổ đầu, cha. Bổ đầu thì đăng dấu ở đâu.
– Bổ đầu thì cũng phải có dấu. – Ông Lương cắm cây đục trở lại ống, cây nhỏ cắm sau cùng. – Mày ký tờ khai bằng chữ. Chữ thì ai viết chẳng được. Thằng Mẫn viết được chữ của vua. Dấu thợ thì không ai đục giả được mà thợ khác không biết.
Ông đứng dậy, vươn vai, nhìn xuống bãi Cỏ Gấu.
– Tháng sau tao về làng. Cái nhà ngoài làng dột từ hồi mẹ mày còn. Tao về lợp lại. – Ông ngừng. – Mày về ăn giỗ mẹ mày thì về.
– Dạ.
Ông đi vào lán. Thiết ngồi lại một lúc, nắm mẩu gỗ trong tay. Rồi anh đi xuống.
Đi ngang lán ông Mười Rổ thì ông già gọi giật lại. Ông ngồi trên cái chõng tre kê ngoài hiên, cái chân đã tháo nẹp duỗi ra đón nắng, bên cạnh dựng một cây gậy tre bóng lên vì tay vịn. Ông Tống ngồi xổm dưới đất bên cạnh, đang vẽ gì đó bằng than lên một tấm ván.
– Cậu Thiết. Lão Tống có cái này cho cậu. Nó vẽ từ sáng, bảo đợi cậu đi qua.
Ông Tống ngẩng lên, cười, cái cười hở lợi như trẻ con. Ông chìa tấm ván ra.
Trên tấm ván là cây cầu Hàn Khê. Không có ai đẩy ai. Không có ai đứng cầm đèn. Chỉ có hai người ngồi trên lan can đầu cầu, quay mặt xuống suối. Dưới bãi sỏi, một đứa trẻ cúi xuống nước. Trên đầu cột mốc, một con chim nhỏ. Khắp nền ván, những đốm than nhỏ rơi lả tả, như ai rắc hoa.
Thiết nhìn tấm ván rất lâu.
– Ông ấy vẽ cái chưa có – anh nói.
– Nó vẽ cái nó thấy trước – ông Mười Rổ nhổ bã trầu, cười khục khục. – Nó không nghe được thì nó nhìn. Nhìn lâu thì thấy cả cái chưa xảy ra. Cậu cầm đi. Đừng cho con bé xem vội, nó lại bảo lão Tống lắm chuyện.
Ông Tống không nghe được câu ấy. Nhưng ông nhìn mặt hai người, rồi gật đầu lia lịa, như đồng ý với tất cả.
Ở bãi tha ma thợ, sườn đồi thấp phía nam bãi Cỏ Gấu, có một người đang quét lá.
Phùng Thuận mặc áo nâu như thợ, đầu để trần, tóc bạc búi lỏng. Ông quét rất chậm, từng nhát chổi tre, quét quanh mười sáu ngôi mộ. Mười bốn ngôi cũ cắm bia gỗ. Hai ngôi mới cắm bia đá xanh, do ông Lương và ông Tống đục từ hồi tháng Giêng. Bia nhỏ, không chạm rồng, không chạm mây. Trên mỗi bia chỉ có tên và một cái dấu. Ba gợn sóng. Hạt thóc.
Ông già thấy Thiết thì dừng tay, gật đầu một cái. Thiết vái ông. Ông không vái lại. Ông lại cúi xuống quét.
Lục Hỉ đã về kinh từ sau Tết. Ông Phùng ở lại một mình, ngủ trong một cái lán nhỏ ở chân bãi tha ma, sáng nào cũng ra chùa dưới chân núi thắp hương mười sáu cái bài vị, chiều nào cũng lên đây quét. Thằng Bính bảo đêm nào cũng còn nghe tiếng mõ.
Tin từ kinh về đến huyện Thạch Bích thường chậm, và thường ngắn. Mẫn Tư Hoằng, tức Diêm Hoằng, đã bị bộ Hình xét xong từ tháng Giêng. Án đã xử. Tư Cối cũng vậy. Thị lang Bành về quê ở phủ Lô Giang, bán ngôi nhà gạch năm gian để đền tiền mật, nghe nói giờ ở một căn nhà ba gian, không còn thiếp. Vạn Hữu Toàn bị đày đi giữ đồn biên ải phía bắc, chung thân. Ngày hắn bị giải đi qua huyện lỵ, Thiết đứng ở bến sông Bích. Hắn nhìn thấy anh từ trên thuyền. Hắn không nói gì. Hắn chỉ giơ tay lên, chỉ về phía đông, về phía làng Gò Mít.
Mỗi đầu tháng, Thiết nhờ ông Bàng bốc một gói thuốc ho, nhờ người buôn trâu mang về Gò Mít.
Tri huyện Nhữ Đình Khang được phủ Lô Giang khen, cho thăng một bậc, mà vẫn ngồi ở huyện Thạch Bích, vì ông xin ở lại. Ông bảo ông ngồi cái ghế này đủ lâu, đít đã dính vào ghế, đứng dậy đi nơi khác thì đau. Ông vẫn xử những vụ hai nhà tranh nhau một con bò. Ông có vẻ vui.
Lán cơm của Nghiên vẫn nấu, nhưng chỉ còn hai bếp. Vách thẻ tre vẫn treo. Một trăm bốn mươi cái thẻ giờ chỉ còn chừng năm chục cái được chuyển cọc mỗi ngày. Những cái còn lại treo im ở hàng cọc khuya, chủ đã về quê. Cái thẻ ba gợn sóng thì nàng đã gỡ xuống từ hôm giỗ trăm ngày, cất lên ngăn cao nhất của cái chạn, cạnh cái bát sứt.
Thiết tìm thấy nàng ở cầu Hàn Khê.
Nàng ngồi trên lan can đá đầu cầu bờ đông, hai chân đung đưa, nhìn xuống suối. Dưới bãi sỏi, thằng Ốc đang lội nước, xắn quần quá gối, cầm mấy cái ống lươn, đặt dọc theo mép nước chỗ khúc dưới cầu. Nắng tháng Ba trong và mỏng. Nước suối trong đến mức đếm được từng viên sỏi dưới đáy. Cánh đào trôi qua.
Thiết đứng cạnh nàng. Anh nhìn xuống trụ cầu bờ đông. Ở góc một khối đá sát mặt nước, nét cánh én vẫn còn đó, nông, rêu bám một nửa.
– Bác Lương đưa anh cái gì? – nàng hỏi, không quay sang.
Anh mở bàn tay. Nàng nhìn mẩu gỗ đen bóng, hai nét cong dang ra như hai cánh chim. Nàng cầm lấy, lật lên, đưa ngón tay cái miết lên hai nét đục, như hôm nàng miết lên nét cánh én nhỏ xíu trên miếng chốt của cha.
– Một nét vụng – nàng nói.
– Nét ấy của anh. Năm mười hai tuổi.
– Em biết. – Nàng trả mẩu gỗ lại cho anh. – Nét vụng thì mới nhận ra của mình. Như cái bát sứt.
Họ ngồi im một lúc. Thằng Ốc dưới suối đã đặt xong ống lươn, đang cúi xuống lật từng hòn đá tìm cua. Ở bờ tây, cái cột mốc mười bảy vẫn đứng sát đầu cầu, mặt trước đục hai chữ "Lăng giới". Không còn lính gác. Chỉ có một con chim chích đậu trên đầu cột, nghiêng đầu nhìn xuống suối.
– Anh này – Nghiên nói. – Hôm ấy cha em bảo em đi tìm anh. Bảo anh là đá của cha anh sai rồi.
– Ừ.
– Đá của bác Lương có sai đâu. Cái chốt bác ấy đục chịu được nửa cái vòm suốt hai tháng. Cái sai là mười một phiến nêm. Là bản vẽ. – Nàng nhìn xuống nước. – Em nghĩ mãi. Sao cha em lại nói thế.
Thiết nghĩ về ông Tảo. Người thợ cả gật đầu chào anh mỗi lần đi ngang điếm tuần mà không nói gì. Người đã bò trong cái rãnh tối đến hạt thóc thứ năm mươi bảy, nằm ngửa gõ một nhát búa lên đuôi chốt. Người đã khắc dấu cánh én lên miếng chốt gỗ. Người đã quay lại ở cửa lán, giờ Dậu đêm hai mươi lăm, dặn con gái đi tìm một người mà ông chỉ biết qua cái gật đầu.
– Vì ông ấy biết nói thế thì em sẽ đi tìm anh thật – anh nói. – Nói cha anh có chuyện, thì anh phải đào. Ông ấy biết anh là con ai.
Nghiên quay sang nhìn anh. Mắt nàng không sưng, không đỏ. Chỉ có cái nắng tháng Ba phản chiếu từ mặt suối lấp lánh trong ấy.
– Cha em tính giỏi thật – nàng nói.
Rồi nàng nghiêng người, đặt môi lên môi anh. Nhẹ. Ngắn. Như một cánh hoa đào rơi xuống mặt nước rồi trôi đi.
Thiết ngồi im. Anh không biết làm gì với hai bàn tay mình. Rồi anh biết. Anh đặt một tay lên vai nàng, kéo nàng lại gần, và lần này anh là người hôn.
Dưới bãi sỏi, thằng Ốc ngẩng lên. Nó đứng giữa dòng nước, tay cầm một con cua đá, nhìn lên cầu, miệng há hốc. Rồi nó quay đi thật nhanh, cúi xuống lật một hòn đá khác, giả như không thấy gì.
– Anh bổ khoái ơi – nó gọi to, không ngẩng lên. – Ống lươn của cháu có con rồi!
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe