Chương 1: Ba bước ngoài cột mốc
– Đứa nào đụng vào cha tao, tao cắn đứt tay đứa ấy!
Tiếng con gái ấy vọng lên từ lòng suối, khàn đặc, nghe như tiếng người đã gào suốt từ nửa đêm. Ứng Văn Thiết chạy tới đầu cầu Hàn Khê thì trời mới hửng, sương còn trắng đục như nước vo gạo, phủ kín cả mặt suối. Anh chỉ thấy lờ mờ một cái đầu tóc xoã, hai cánh tay ôm ngang một thân người, và bốn năm cây câu liêm của lăng binh chĩa xuống từ bờ bên kia.
Thằng Ốc chạy theo sau anh, thở hồng hộc, chân đất đỏ lựng vì rét.
– Chị cháu đấy, anh bổ khoái. Chị cháu ngâm dưới ấy từ canh tư rồi.
Thiết không đáp. Anh nhảy xuống bãi sỏi bờ đông, lội ra. Nước suối Hàn Khê cuối tháng Mười lạnh như có dao, vừa ngập tới đầu gối đã thấy buốt lên tận bụng. Người con gái đứng nước ngang thắt lưng, hai tay ôm lấy vai một ông già, giữ cho mặt ông ngửa lên khỏi nước. Môi nàng đã tím, răng đánh vào nhau lập cập, nhưng mắt thì vẫn nhìn chòng chọc lên bờ tây, nơi đám lính áo đỏ đứng thành hàng.
Thiết nhận ra ông già. Ông Lư Đức Tảo, thợ cả của lăng, người mỗi lần đi ngang điếm tuần đều gật đầu chào anh một cái, không nói gì. Còn người con gái là con gái ông, cô Nghiên nấu lán cơm ở bãi Cỏ Gấu.
– Tôi là bổ đầu huyện Thạch Bích – Thiết nói to, giọng bình thường, như đang hỏi giá gạo. – Cô buông ra được rồi. Tôi giữ cho.
– Ông giữ để làm gì? Để đưa cho bọn kia à?
– Để cô lên bờ hơ lửa. Cô mà chết rét thì cha cô còn ai đòi cho.
Nàng nhìn anh một lúc lâu. Rồi hai cánh tay từ từ nới ra. Thiết luồn tay đỡ lấy vai ông Tảo. Người ông nặng và cứng, đã lạnh như đá dưới đáy suối. Anh với Mậu, cậu bổ khoái trẻ vừa lội tới, khiêng ông lên bãi sỏi, đặt nằm ngửa. Thằng Ốc lao tới định ôm cha, Thiết giơ tay chặn lại.
– Khoan đã, Ốc. Đừng đụng vào. Mậu, lấy áo tơi của mày đắp cho cô ấy, rồi chạy về điếm nhóm lửa, đun nồi nước gừng.
– Dạ. Mà anh Thiết…
Mậu hất hàm về phía bờ bên kia. Một người đàn ông cao, vai u lên như vai trâu, mặc áo đỏ thắt đai da, đang bước lên đầu cầu. Đó là Vạn Hữu Toàn, đội trưởng lăng binh. Hắn chống tay vào chuôi đao, nói vọng sang, tiếng ồm ồm dội vào vách núi.
– Bổ đầu Ứng. Người ấy là thợ của lăng. Chết là việc của lăng. Ngươi khiêng sang đây.
Thiết đứng thẳng lên.
– Thưa đội trưởng, ông ấy là thợ của lăng thật. Nhưng ông ấy đang nằm trên đất huyện.
– Đất nào là đất huyện?
Thiết không cãi. Anh đi ngược lên đầu cầu bờ tây, nơi có cái cột đá vuông chôn sâu, cao ngang ngực, mặt trước đục hai chữ "Lăng giới" và con số mười bảy. Ba mươi sáu cột như thế đánh dấu đất lăng. Từ lòng suối trở về tây là đất cấm. Từ lòng suối trở sang đông là đất huyện Thạch Bích.
Anh đặt gót chân sát chân cột, rồi đi chậm, mỗi bước một thước, xuống lòng suối, qua dòng nước chảy xiết giữa lòng, lên bãi sỏi bờ đông. Lính hai bên đứng nhìn. Anh dừng lại bên chân ông Tảo, quay đầu.
– Mười một bước tới mép nước bờ đông. Lòng suối ở đây là ranh, đội trưởng biết rõ hơn tôi, vì chính lăng cắm cột theo lòng suối. Ông Tảo nằm cách mép nước ba bước. Ba bước ngoài cột mốc.
Vạn Hữu Toàn nhổ một bãi nước bọt xuống suối.
– Lão ta ngã từ trên cầu xuống. Cầu là của lăng.
– Ngã từ chỗ nào trên cầu? Nửa đông hay nửa tây? Đội trưởng thấy à?
Vạn mở miệng, rồi ngậm lại. Thiết biết hắn hiểu. Nếu hắn nói thấy, hắn là người làm chứng, và người làm chứng một cái chết trên đất huyện thì phải xuống huyện nha khai. Còn nếu hắn không thấy, thì hắn không biết ông Tảo ngã ở đâu.
– Ta đoán – Vạn nói.
– Đội trưởng đoán thì tôi ghi là đoán. Chết ở đâu, bây giờ chưa ai biết. Nằm ở đâu thì ai cũng thấy.
Có người lính phía sau Vạn khẽ cười. Vạn quay lại quát một tiếng, đám câu liêm hạ xuống.
– Ngươi sẽ hối, bổ đầu Ứng. Công công đã dặn, việc trong lăng không để người ngoài nhúng tay.
– Thì việc ngoài lăng, tôi xin nhúng.
Vạn quay lưng đi lên dốc. Thiết nghe tiếng giày vải của hắn nện xuống bậc đá, xa dần. Hai người lính ở lại, đứng gác đầu cầu, mặt quay đi chỗ khác.
Thiết quay về bãi sỏi, ngồi xổm xuống bên ông Tảo.
Ông già nằm ngửa, mắt nhắm, tóc bạc bết vào trán. Áo nâu cộc tay, quần lá tọa ống xắn, thắt lưng vải chàm buộc hai vòng. Chân trái còn đi một chiếc dép quai gai, chân phải để trần. Thiết nhìn chiếc dép một lúc, rồi nhìn lên cầu. Từ chỗ anh ngồi, mặt cầu cao chừng ba người đứng chồng lên nhau, lan can thấp, đá xanh lát phẳng. Ở đầu cầu bờ tây, sát chân cột mốc, có một vật gì đen đen mắc vào kẽ đá. Anh nheo mắt. Chiếc dép còn lại.
Anh không nói gì. Mậu đứng bên cạnh cũng đã thấy, liếc anh. Thiết khẽ lắc đầu.
Anh cầm lấy hai bàn tay ông Tảo, lật lên. Bàn tay thợ đá, chai dày như mo cau, các khớp ngón to sần. Nhưng lòng bàn tay sạch. Kẽ móng sạch. Không có lấy một chút bụi đá xanh, cái thứ bụi mà thợ đá rửa ba nước vẫn còn xám mờ dưới móng.
– Cô Nghiên – anh gọi, không ngẩng lên. – Tối qua cha cô đi làm ca đêm à?
Người con gái đã trùm cái áo tơi của Mậu, ngồi co ro trên một tảng đá, thằng Ốc nép vào bên. Nghe hỏi, nàng ngẩng phắt lên.
– Không có ca đêm nào hết. Vòm hợp long hôm hai mươi rồi, mấy hôm nay thợ cả chỉ làm buổi ngày. Cha tôi ăn cơm tối ở lán từ giờ Dậu. Cha tôi rửa tay xong mới ăn, rửa kỹ lắm.
– Đội trưởng Vạn bảo tối qua ông ấy uống rượu ở quán dưới Gò.
– Cha tôi không uống rượu – nàng gằn từng tiếng. – Từ năm mẹ tôi mất, cha tôi không đụng một giọt nào. Mười năm rồi. Cả bãi Cỏ Gấu này ai mà không biết. Đến giỗ ông bà cha tôi cũng chỉ rót chén rượu đặt lên bàn thờ rồi để đấy.
Thiết gật đầu. Anh nhìn lên mặt ông Tảo. Ở thái dương bên trái có một vết bầm tím nhạt, nhỏ bằng đồng tiền. Anh không đụng vào. Việc ấy là việc của ngỗ tác.
Rồi anh đứng dậy, nhìn quanh. Lòng suối chỗ này giữa sâu, hai bên nông. Ngã từ trên cầu xuống chỗ sâu thì nước sẽ cuốn xác xuống tận khúc cong cách đây trăm bước. Còn ông Tảo lại nằm ở bãi sỏi nông, chưa tới mười bước dưới chân cầu.
Hoặc như thể có người đã cố đẩy ông vào chỗ nước sâu mà không đủ tay.
Thiết ngước lên cầu một lần nữa. Dưới gầm cầu, trụ cầu bờ đông xây bằng những khối đá xanh lớn, mặt khuất đã rêu phủ. Ở góc một khối đá sát mặt nước, anh thấy một nét đục nông, hình một nét cong dang ra như cánh chim én đang lượn. Anh biết dấu ấy. Năm anh mười hai tuổi, anh đã ngồi xem người đục ra nó lên hàng nghìn phiến đá, và đã được người ấy cầm tay đục thử nửa nét lên một mẩu gỗ vụn.
Cây cầu này do cha anh xây trụ. Thiết quay đi, không nhìn nữa.
Mậu quay lại với một cái phản gỗ cũ. Hai người đặt ông Tảo lên phản, khiêng về điếm tuần Cỏ Gấu, cái nhà tranh ba gian ở rìa bãi, nơi huyện cắt người canh cho hai nghìn phu dịch khỏi đánh nhau, khỏi trộm của nhau. Tháng này đến phiên Thiết trực ở đây. Cái phản ông Tảo nằm là cái phản anh ngủ suốt mười hai hôm nay.
Thiết bảo Mậu lấy ngựa của điếm, phi về huyện lỵ báo Tri huyện và gọi ngỗ tác. Anh ngồi lại bên phản, cùng Nghiên và thằng Ốc. Nghiên đã thay cái áo ướt bằng một cái áo bông cũ của thằng em, tay ôm bát nước gừng mà không uống. Lửa trong bếp điếm nổ lép bép. Mùi khói rơm, mùi gừng nướng.
– Cô tìm thấy cha cô lúc nào? – anh hỏi.
– Không phải tôi. Thằng Ốc.
– Cháu đi đặt ống lươn dưới suối từ canh tư – thằng bé nói, mắt đỏ hoe nhưng giọng rành rọt. – Cháu đặt ống ở khúc dưới cầu, chỗ ấy lươn nhiều. Cháu thấy cái gì trăng trắng ở bãi sỏi, cháu tưởng bao tải, cháu lội lại thì là cha. Cháu chạy về gọi chị.
– Lúc ấy có ai trên cầu không?
Thằng bé nghĩ một lúc.
– Không có ai. Mà trên cầu tối om. Trăng mới lên được một mẩu, cong như cái móng tay, ở tít đằng kia.
Nó chỉ về phía đông, nơi bây giờ trời đã sáng hẳn. Thiết gật đầu. Hôm nay hai mươi sáu, trăng tàn, phải gần sáng mới mọc. Tối qua lúc đầu hôm, cả cái thung suối này đen như đáy nồi.
– Còn cô, cô ra suối lúc nào?
– Nó gọi là tôi chạy ra ngay. Tôi vừa lôi được cha vào chỗ nông thì bọn lính tuần trên lăng thấy đèn, kéo xuống, đứng chật cả đầu cầu. Chúng cầm đuốc, cầm câu liêm, bảo cha tôi là người của lăng, bảo tôi tránh ra. Tôi không tránh. Cha tôi mà vào tay chúng thì mai đã chôn, rồi người ta bảo cha tôi say rượu ngã cầu. Cả đời cha tôi chẳng có gì, có mỗi cái tiếng không rượu chè. Tôi không để người ta lấy nốt.
Thiết nhìn nàng. Nàng không khóc. Hai bàn tay nàng đỏ tấy vì nước lạnh, các đốt ngón tay đã nứt nẻ từ trước, vết nứt của người rửa bát cho trăm bốn mươi người ăn mỗi ngày.
Gần giờ Thìn thì nghe tiếng vó ngựa. Tri huyện Nhữ Đình Khang xuống ngựa trước cửa điếm, áo bào xanh lấm bụi đường, mũ cánh chuồn lệch về một bên. Theo sau là ông ngỗ tác Bàng Hữu Chí râu tóc bạc phơ, và Mậu.
Nhữ Đình Khang không vào nhà ngay. Ông đứng ở sân, nhìn lên con dốc dẫn vào tường lăng, rồi nhìn Thiết, rồi kéo Thiết ra góc sân, chỗ bụi tre.
– Ứng bổ đầu, ngươi làm cái gì thế hả?
– Bẩm quan, thuộc hạ giữ xác người chết trên đất huyện, chờ quan xét.
– Người chết là thợ lăng. – Tri huyện hạ giọng, mắt lại liếc lên dốc. – Ngươi có biết trên ấy là ai không? Phùng công công là người hầu Hoàng thượng từ thuở Hoàng thượng còn là một hoàng tử nhỏ. Thị lang Bành là người bộ Công. Ngày mai họ dâng một tờ sớ bảo huyện Thạch Bích ngăn trở việc lăng tẩm, thì cả ngươi cả ta…
– Bẩm, luật ghi: chết ngoài cột mốc thì huyện xét. Quan không xét là trái luật. Mà trái luật thì cũng có sớ.
Nhữ Đình Khang nhìn anh. Ông là người không xấu. Thiết biết thế. Ông về làm tri huyện Thạch Bích đã sáu năm, chưa ăn của ai đồng nào, cũng chưa bao giờ dám cãi ai câu nào. Mỗi lần nghe tin bên lăng có quan trên xuống, ông lại mất ngủ hai đêm.
– Ngươi chắc ông ta nằm ngoài cột mốc?
– Ba bước, bẩm quan. Lăng binh cũng đứng nhìn thuộc hạ đếm.
Tri huyện thở ra một hơi dài, hơi thở thành khói trắng trong không khí lạnh.
– Thôi được. Lão Bàng khám. Ta cho ngươi đến giờ Thân ngày mai. Quá giờ Thân mà ngươi chẳng tìm ra gì khác chuyện ngã cầu, thì ta ghi ngã cầu, giao xác cho gia đình chôn, đền tiền gì là việc bên lăng. Còn nếu bên lăng cho người xuống đòi, ta không cản được, ngươi biết rồi đấy.
– Dạ.
– Mà ngươi… – Tri huyện ngừng lại, chỉnh lại cái mũ. – Cha ngươi cũng làm trong ấy phải không?
– Dạ.
– Cẩn thận.
Ông quay vào nhà. Ông ngỗ tác Bàng đã mở tráp, bày ra bát giấm, nắm bông, con dao nhỏ. Thiết bảo thằng Ốc về lán trông bếp, nó vừa đi vừa ngoái lại. Nghiên thì vẫn đứng ở góc nhà, hai tay vòng trước ngực. Ông Bàng quay lại nhìn nàng.
– Con gái à, lão sắp lật áo cha cháu ra xem. Cháu đứng đấy thì lão ngại tay. Cháu ra hiên ngồi, lão xong lão gọi.
Nghiên không nhúc nhích. Một lúc sau, nàng quay sang Thiết.
– Ông bổ đầu. Tôi ra. Nhưng trước khi ra, tôi phải nói với ông một câu. Câu này cha tôi dặn.
– Cô nói đi.
– Tối qua, giờ Dậu, cha tôi ăn cơm xong thì bảo tôi: cha lên trên ấy xem lại cái nêm. Tôi hỏi nêm nào, cha không nói. Rồi lúc ra tới cửa lán, cha quay lại. Cha bảo: nếu đêm nay cha không về, con đi tìm thằng Thiết bổ đầu ở điếm tuần. Bảo nó…
Nàng ngừng lại. Cả gian nhà im phắc, chỉ còn tiếng lửa bếp. Tri huyện, ông ngỗ tác, cả Mậu, đều quay lại nhìn nàng.
– Bảo nó, đá của cha nó sai rồi.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe