Chương 27: Thượng bảo ty
Những ngày cuối tháng Một trôi đi như nước rỉ qua kẽ đá, chậm, lạnh, không tiếng.
Ông Mười Rổ nằm ở điếm tuần, cái chân nẹp tre, ngày ba bữa Nghiên mang cháo sang. Ông Bàng xuống thăm hai lần, sờ nắn cái chân, gật gù bảo xương liền thì liền, mà đi lại được như cũ thì phải sang năm. Ông già nằm nghe, nhai trầu bằng lợi, rồi bảo sang năm thì sang năm, ông chẳng còn đi đâu nữa mà vội.
Ở huyện nha, Thị lang Bành ăn được ba bát cơm một bữa, ngủ được một giấc dài, rồi ngồi chép lại những gì ông đã kể, bằng chữ chân run run, từng tờ một, ký tên đóng dấu riêng. Tri huyện Nhữ cất những tờ ấy vào một cái tráp gỗ, khóa lại, chìa đeo ở thắt lưng.
Ông Lương làm xong cái chân mây dưới cùng của hai cánh cửa đá. Ông bảo còn mài khớp trụ, còn đặt đá lăn vào rãnh, còn chừng năm hôm. Thiết không xuống huyền cung với cha nữa, vì ông Lương bảo lính gác đã đổi người, thằng Bính không còn đứng ở cửa vòm. Ông làm một mình.
Ngày ba mươi, phòng lương dán bảng. Thiết đứng đọc cùng Nghiên. Dấu ba gợn sóng: không phiến. Dấu hạt thóc: không phiến. Dấu chữ thập có một vạch mực gạch ngang, bên cạnh ghi chữ nhỏ: bỏ việc. Dấu cành trúc cũng thế. Nghiên đứng nhìn tấm bảng hồi lâu, rồi quay đi.
Không ai nhắc tới Lục Hỉ. Ở nhà Giám lăng, mỗi chiều có một tiểu thái giám khác ra cổng phụ nhận rau, nhận gạo. Bính bảo công công ít ra khỏi gian trong. Tiếng mõ gỗ thì đêm nào cũng nghe, đến tận canh ba.
Đêm mùng một tháng Chạp, không trăng.
Thiết đang ngồi ở lán cơm với Nghiên, giúp nàng nhặt đậu cho bữa sáng, thì Bính chạy vào. Nó không đứng ở cửa như mọi khi. Nó vào hẳn trong lán, đến bên Thiết, mặt trắng bệch trong ánh bếp.
– Anh Thiết. Cậu Lục Hỉ về rồi. Về lúc chập tối, một con ngựa, con kia chết dọc đường. Người cậu ấy như cái xác. – Nó thở dốc. – Công công bảo em xuống gọi anh. Ngay bây giờ. Đi lối cổng phụ, có em dẫn.
Nghiên đặt rổ đậu xuống. Nàng nhìn Thiết.
– Anh đi đi.
Bính dẫn anh lên dốc trong bóng tối đặc. Không đèn. Đến cổng phụ, lính gác thấy Bính thì mở cửa, không hỏi một lời. Qua sân chầu, qua cửa vòm tiện đạo vẫn có bốn lính đứng gác, đến nhà Giám lăng. Bính dẫn anh vòng ra sau, theo cái hành lang hẹp, đến cánh cửa gỗ nhỏ đêm mùng mười.
Gian trong vẫn như cũ. Cái giường gỗ, cái bàn, cái khám thờ không bài vị. Ngọn đèn dầu. Cái ống tre vàng.
Phùng công công ngồi trên mép giường, áo bông cũ khoác ngoài áo lót trắng. Lục Hỉ quỳ dưới chân ông, người còn nguyên bụi đường, áo rách ở khuỷu tay, tóc rối bết, hai môi nứt nẻ rớm máu. Cậu ta đang uống một bát nước, uống từng ngụm nhỏ, tay run đến mức nước sánh ra ngoài.
– Ngồi xuống – Phùng công công nói, không nhìn Thiết. – Lục Hỉ, nói lại. Từ đầu. Để hắn nghe.
Lục Hỉ đặt bát nước xuống, lau miệng bằng mu bàn tay.
Cậu ta đi từ canh năm ngày mười bảy tháng Một. Đi ngựa trạm, đổi ngựa ở mỗi trạm bằng cái thẻ bài của Giám lăng, ngày đêm không nghỉ, một ngày rưỡi thì đến kinh. Đến kinh rồi thì mới khó.
Thượng bảo ty là nơi giữ ấn của Hoàng thượng. Một tiểu thái giám ở lăng xa đến hỏi thì không ai thèm tiếp. Lục Hỉ phải đợi ở ngoài cửa sáu ngày. Sáu ngày ngồi ở cái quán nước trước cửa, mỗi sáng đưa thẻ bài vào, mỗi chiều bị trả ra. Đến ngày thứ bảy, cậu gặp được một người quen cũ, một lão thái giám từng hầu ở cùng điện với Phùng công công ba mươi năm trước. Lão ấy nghe tên Phùng Thuận thì cho cậu vào.
– Lão ấy cho em xem sổ ấn – Lục Hỉ nói, giọng khàn đặc. – Mỗi lần ấn ra khỏi hộp, mỗi tờ dụ đóng ấn, đều phải ghi. Ngày, giờ, tờ gì, gửi ai, ai cầm ấn. Em đọc chữ chân được, công công dạy em. Em lật từng trang tháng Chín.
Cậu ta ngừng lại. Uống thêm ngụm nước.
– Từ mùng năm đến rằm tháng Chín, ấn không ra khỏi hộp lần nào. Hoàng thượng đi trai giới ở chùa núi Tử Vân mười ngày, không ngự triều, không phê tấu. Hộp ấn niêm phong, chìa khóa lão Thượng bảo giữ, lão ấy ở lại kinh. Ngày mồng chín tháng Chín, không có tờ dụ nào. Không có tờ nào gửi Giám lăng Khánh lăng. Cả tháng Chín không có tờ nào gửi Khánh lăng.
Gian phòng im phắc. Ngọn đèn dầu đứng yên như vẽ.
– Còn nữa – Lục Hỉ nói, mắt nhìn xuống nền. – Lúc về, em hỏi các trạm dọc đường. Ống vàng đi trạm thì trạm nào cũng phải nhớ, vì ống vàng thì phải đổi ngựa ngay, không được chờ. Trạm ở kinh không gửi ống vàng nào đi Khánh lăng tháng Chín. Trạm thứ hai không có. Đến trạm Quan Ải, cách kinh hai trạm, lão trưởng trạm nhớ. Cuối tháng Chín có một người đến, đen, vai to, nói ít, ra hiệu nhiều. Mang một ống vàng, bảo người phi ngựa trạm trước ốm dọc đường, nhờ mình mang tiếp. Đưa cho lão trưởng trạm một nén bạc để khỏi phải ghi lại. Lão trưởng trạm nhận bạc. Rồi cho một lính trạm mang ống vàng đi tiếp, đến tận lăng.
Thiết không nói được gì. Anh nhìn Phùng công công. Ông già ngồi im như một bức tượng gỗ. Chỉ có tràng hạt trên cổ tay ông là đã ngừng hẳn, không một hạt nào nhích.
– Đen, vai to, nói ít – ông nói. Rất khẽ.
Không ai đáp.
Ông đứng dậy. Ông đi đến bên khám thờ, đứng nhìn cái ống tre vàng. Rồi ông không vái nữa. Ông cầm nó lên bằng một tay, như người ta cầm một cái ống bương đựng nước. Ông tháo nút dây lụa, mở nắp, rút cuộn giấy vàng ra, ném lên bàn trước mặt Thiết.
– Ngươi xem đi.
Rồi ông mở cái rương gỗ ở chân giường, lấy ra một cái ống tre khác, cũ hơn, sơn đã tróc, nắp đồng đã xỉn đen. Ông rút ra một cuộn giấy vàng đã ngả màu, mép giấy sờn.
– Tờ dụ bổ ta làm Giám lăng Khánh lăng. Bốn năm trước. Chính tay Hoàng thượng trao cho ta ở chính điện. Ta quỳ mà đỡ. – Ông đặt nó cạnh tờ kia. – Ngươi đọc vết đục. Ngươi đọc dấu xem.
Thiết mở cả hai tờ ra, chặn bốn góc bằng cái chén, cái bát nước, cây đèn, và bàn tay mình. Anh ghé đèn sát lại.
Hai con dấu son vuông, cùng cỡ, cùng một hàng chữ triện uốn lượn. Nhìn qua thì như hai giọt nước. Anh không nhìn qua. Anh nhìn như anh đã nhìn năm phiến nêm ở bãi đá, đêm ba mươi tháng Mười, bằng đầu ngón tay.
Con dấu trên tờ dụ cũ có một đường rạn rất mảnh, mảnh như sợi tóc, chạy chéo qua góc dưới bên trái, cắt ngang nét cuối của chữ triện thứ tư. Ở chỗ đường rạn, son không ăn vào giấy, để lại một vệt trắng nhỏ. Mép các nét chữ triện hơi tròn, hơi nhòe, như mép một hòn đá cuội đã lăn trong suối nhiều năm.
Con dấu trên tờ giấy trong ống vàng thì không có đường rạn nào. Mép các nét sắc ngọt, vuông vức. Mỗi nét đều đi một chiều, bắt đầu sâu ở đầu bên phải, nhẹ dần về bên trái, như người khắc cầm dao bằng tay phải, kéo về phía mình. Dao mới. Không một chỗ nào mòn.
– Ấn thật có vết rạn ở góc – Thiết nói. Giọng anh nghe khàn đi. – Ấn ở tờ này không có.
– Vết rạn từ năm tranh ngôi. – Phùng công công nói, không nhìn hai tờ giấy. – Đêm ấy có người phá cửa điện, ta ôm hộp ấn chạy ra cửa sau, vấp ngã trên thềm đá. Hộp vỡ. Ấn văng ra, đập xuống đá, rạn một góc. Ta quỳ ở thềm cả đêm chờ chém. Hoàng thượng không chém. Hoàng thượng bảo giữ nguyên vết rạn, để người nhớ. Ba mươi mốt năm nay mọi tờ dụ đều có vết ấy. – Ông ngừng lại. – Ta biết điều ấy. Ta biết từ ba mươi mốt năm trước. Ta đã cầm tờ này mà không nhìn.
– Vì công công không đọc được chữ thảo.
– Vì ta không dám nhìn. – Ông quay lại. Dưới ánh đèn, gương mặt nhẵn thín ấy như già thêm mười tuổi. – Chỉ vua thì không được nhìn bằng mắt người hầu. Chỉ được nghe, rồi làm. Ta nghe. Ta làm.
Ông ngồi xuống mép giường. Không nói thêm gì nữa.
Lục Hỉ đã ngủ gục dưới chân ông, đầu tựa vào thành giường. Thiết ngồi trên cái ghế đẩu, hai tờ giấy vàng vẫn trải trước mặt. Ngọn đèn dầu cạn dần. Không ai thêm dầu. Ngoài cửa sổ, đêm không trăng đen như mực, gió bắc thổi qua mái ngói nghe như có người đi trên đó.
Canh hai. Canh ba. Phùng công công vẫn ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, mắt mở, không nhìn gì. Một lần, ông đưa tay lên lần tràng hạt, lần được ba hạt thì dừng, như quên mất tay mình đang làm gì. Một lần, ông mấp máy môi, như đang đọc thầm một cái tên. Thiết nghĩ đó là tên ông Tảo. Rồi ông mấp máy một lần nữa. Tên ông Kim Thọ.
Thiết không dám đứng dậy. Anh không dám nói. Anh ngồi đó, như hồi nhỏ ngồi bên cha suốt đêm canh mẻ vôi nung, không được ngủ, không được hỏi.
Gần canh năm, ngọn đèn tắt. Gian phòng tối hẳn. Một lúc lâu sau, giọng ông già vang lên trong bóng tối, khẽ, đều, không lên không xuống, như người đọc một câu kinh đã thuộc lòng.
– Ngày hai mươi tám tháng Chín, ngựa trạm đến lúc giờ Mùi. Ta đang nhận ống vàng ở hiên thì có người khách đến. Người ấy lên núi xem lại bản vẽ cửa đá, đi bộ từ nhà khách sang. Ta mở ống, nhìn chữ thảo, nhìn mãi không ra. Người ấy đứng bên cạnh. Người ấy bảo: hạ quan đọc cho công công nghe, hạ quan xin thề có trời đất, nghe xong thì quên. Người ấy đọc. Đọc chậm, rõ, không vấp chữ nào. Đọc xong người ấy quỳ xuống trước ống vàng, khóc. Người ấy bảo: triều ta nhân từ, sao lại có việc này.
Bóng tối im lặng một lúc.
– Ta tưởng là duyên trời. Đúng ngày ngựa trạm đến, đúng giờ ấy, lại có người biết chữ thảo đứng bên cạnh ta.
Thiết nghe tim mình đập trong lồng ngực.
– Người đọc cho ta – Phùng công công nói – là Mẫn đại nhân.
— Hết chương 27 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe