Chương 19: Chín trừ hai
– Ông ấy cho anh đọc à? Chính tay ông ấy đưa?
Nghiên hỏi mà không ngẩng lên. Nàng đang ngồi xổm bên con lạch sau lán, cọ cái nồi gang to nhất bằng nắm rơm trộn tro. Sáng mười một tháng Một, thợ đã ăn xong và lên núi, bãi Cỏ Gấu chỉ còn tiếng gà và tiếng mấy bà nấu bếp gọi nhau phơi chăn. Mặt lạch bốc khói nhẹ trong cái lạnh đầu ngày.
– Ông ấy bắt tôi đọc to – Thiết nói. – Ông ấy ngồi nghe.
Anh đã kể hết. Ống tre vàng, cuộn giấy vàng, con dấu son vuông. Chín thợ cả biết đường trong cung. Giao Giám lăng tùy nghi xử trí trước ngày duyệt cung. Người đứng ở đầu cầu cầm đèn, chính miệng ông ấy nhận. Anh kể chậm, không bỏ chữ nào, vì cả đêm qua anh đã nằm đọc lại từng chữ ấy trong đầu.
Nghiên cọ nồi thêm một lúc. Rồi tay nàng dừng.
– Vậy là cha tôi chết vì vua.
– Vì một tờ giấy.
– Tờ giấy của vua. – Nàng đặt nắm rơm xuống, nhìn hai bàn tay đen sì tro. – Cả đời cha tôi đục đá cho cái nhà người ta nằm khi chết. Đục bốn năm, mắt mờ đi, lưng còng đi. Rồi người ta viết một tờ giấy bảo đẩy cha tôi xuống suối cho kín chuyện.
Thiết không nói gì. Anh không có câu nào để nói mà không phải là câu dối.
– Anh tin tờ giấy ấy không? – nàng hỏi.
– Tôi không biết.
– Anh đọc chữ cả đời mà không biết?
– Chữ thì tôi đọc được. – Anh nhặt một hòn sỏi dưới chân, xoay trong tay. – Cô nghe này. Công công không biết gì về đá vôi. Tôi hỏi, mặt ông ấy như người bị hỏi bằng tiếng nước khác. Ông ấy giết cha cô vì cha cô biết đường trong cung. Mà cha cô thì không bị giết vì đường trong cung. Cha cô bị giết vì cha cô đã xuống chân vòm tây gõ từng phiến nêm, rồi quỳ trong hang Rùa nhìn thấy cái chum nước đen.
Nàng nhìn anh.
– Thì cũng là biết.
– Là biết hai thứ khác nhau. Một tay muốn giết thợ. Một tay nhét đá vôi vào vòm. Tay giết thợ không biết có đá vôi. Thế mà nó lại giết đúng người biết đá vôi. – Anh thả hòn sỏi xuống lạch. – Như có ai đứng giữa, chỉ cho tay này biết phải giết người nào.
Nước lạch chảy qua hòn sỏi, róc rách. Nghiên ngồi im rất lâu. Rồi nàng đứng dậy, xách cái nồi lên, úp ngược trên phiến đá cho ráo nước.
– Anh đi gặp bác Lương chưa?
– Tôi đi bây giờ.
– Anh nói với bác ấy chuyện tờ giấy?
– Không.
– Sao?
– Vì cha tôi đã biết trước tôi. – Thiết đứng dậy, phủi đầu gối. – Cha bảo tôi đếm. Hồi ở trong gian kho, chân còn trong cùm, cha bảo chín người, mày đếm đi. Cha không biết có tờ giấy. Nhưng cha biết người ta đang đếm.
Lán của ông Lương đã dọn lại từ hôm được tha. Cái rương gỗ đứng lại chỗ cũ, chiếu trải phẳng, ống đục cắm đủ, cây to trước cây nhỏ sau. Ông ngồi trên hòn đá kê trước cửa như mọi chiều, nhưng hôm nay ông không lên núi. Trước mặt ông là một khối đá xanh to bằng cái cối giã gạo, đã đục được dáng tròn. Đá lăn của cửa đá. Ông đang mài nhẵn mặt nó bằng một hòn đá mài nhỏ, mài vòng tròn, đều, chậm.
– Sao cha không làm trong ấy?
– Đá lăn phải mài ở chỗ sáng. Trong ấy tối, mài lệch một ly là nó chạy lệch một ly. – Ông không ngẩng lên. – Mà công công cho tao ra ngoài làm. Tao xin.
Thiết ngồi xuống cái đá kê bên cạnh. Lần đầu tiên sau mười bảy năm anh ngồi cạnh cha mà cha không đuổi.
– Con đếm rồi.
Tay ông Lương vẫn mài.
– Đếm ra mấy?
– Bảy. Ông Tảo, ông Thọ nằm ngoài bãi tha ma. Còn bảy. Lão Dụng đang trong tay lăng binh. Ông Tống ở chỗ con biết. Còn cha, ông Mười Rổ, chú Lộ, chú Tứ, anh Cốm.
– Thế thì đưa năm đứa kia đi.
– Còn cha?
– Tao làm cửa.
– Cha…
– Mày bảo mày đếm. Mày đếm thì mày cũng biết tao còn đến mùng năm tháng Chạp. – Ông Lương thổi bụi đá trên mặt khối đá lăn, nhìn nghiêng, rồi mài tiếp một chỗ. – Còn hai mươi tư hôm. Hai mươi tư hôm thì làm được nhiều việc. Mày lo cho mấy đứa kia trước.
Thiết nhìn bàn tay cha. Bàn tay mất nửa đốt ngón út đưa hòn đá mài đi vòng tròn, không lệch một ly. Hôm hai mươi sáu tiếng mài lạc nhịp. Hôm nay thì không.
– Cha biết ai ra lệnh không?
Lần này ông Lương dừng tay. Ông nhìn con trai, nhìn rất lâu, như nhìn một mặt đá xem nên đặt đục vào chỗ nào.
– Tao không muốn biết. – Ông nói. – Mày cũng đừng nói cho tao. Tao biết thì tao làm cửa không xong.
Ông lại cúi xuống mài. Một lúc sau, không ngẩng lên, ông hỏi thêm:
– Con bé họ Lư biết chưa?
– Biết rồi.
– Ừ. – Hòn đá mài đi thêm một vòng. – Nó biết thì được.
Gần trưa, Thiết lên nhà Giám lăng. Lần này anh không đợi người mời. Anh đứng ở cổng phụ, nói với lính gác rằng bổ đầu huyện Thạch Bích xin gặp Giám lăng về việc phiên xét hôm qua. Người ra đón anh là tên tiểu thái giám mặt non. Cậu ta chừng mười sáu, mười bảy, da trắng, tóc búi gọn trong cái mũ vải đen, đi nhanh mà không có tiếng chân.
– Em tên là Lục Hỉ – cậu ta nói khi dẫn anh qua sân chầu, như thể biết anh định hỏi. – Công công đang đọc kinh. Bổ đầu chờ ở hiên một lát.
Anh chờ gần một tuần hương. Từ gian giữa vọng ra tiếng tụng kinh khe khẽ, đều đều, rồi tiếng mõ gỗ. Rồi im. Lục Hỉ ra mời anh vào.
Phùng công công ngồi bên cái bàn gỗ trắc thấp như lần đầu Thiết lên, ấm nước sôi để nguội, cái chén men trắng. Cây phất trần cắm trong ống sứ ở góc. Nhìn ông lúc này, không ai nghĩ đêm qua chính ông đã mở cái ống tre vàng.
– Ngươi lên làm gì? – ông hỏi. – Ta tưởng đêm qua ta nói đủ rồi.
– Bẩm, thuộc hạ có một việc xin công công.
– Nói.
Thiết quỳ một gối.
– Xin công công cho người về kinh. Đến Thượng bảo ty. Hỏi xem ngày mồng chín tháng Chín có tờ dụ nào gửi Giám lăng Khánh lăng đóng ấn không.
Gian nhà im phắc. Ngoài hiên, gió đưa mấy cái lá thông khô lạo xạo trên nền gạch.
Phùng công công đặt chén nước xuống. Ông đặt rất nhẹ, nhẹ đến mức không có tiếng men chạm vào gỗ. Rồi ông nhìn Thiết. Đôi mắt nhỏ mí sụp ấy không giận. Nó lạnh đi, như mặt suối Hàn Khê lúc tờ mờ sáng.
– Ngươi bảo ta sai người về kinh, hỏi xem chỉ vua có phải chỉ vua không.
– Bẩm…
– Ta hầu Hoàng thượng năm mươi hai năm. – Giọng ông vẫn nhỏ, vẫn chậm, nhưng mỗi chữ như được gõ xuống bằng đầu búa. – Người hầu mà hỏi lại lời chủ thì không còn là người hầu nữa. Người hầu mà sai người đi dò lời chủ thì là kẻ phản. Ngươi muốn ta làm kẻ phản để cứu cha ngươi.
– Thuộc hạ không dám nghĩ thế.
– Ngươi nghĩ thế. Mắt ngươi nghĩ.
Thiết cúi đầu. Câu ấy anh đã nghe một lần, trên thần đạo, từ miệng một người khác. Anh chưa kịp nghĩ vì sao hai người lại nói giống nhau đến thế.
– Ta đã hỏi Vạn – Phùng công công nói tiếp, lần một hạt tràng. – Vạn bảo đá là việc ăn chênh. Người của bộ Công đưa tiền, thằng Dụng đục. Vạn ăn phần của Vạn, ta sẽ xét Vạn. Thằng Dụng ta cho về lán, có người trông, để nó biết là ta xét có trước có sau. Còn tờ giấy kia… – ông ngừng, nhìn về phía cánh cửa gỗ nhỏ dẫn ra hành lang sau. – Tờ giấy kia ngươi đã đọc. Ngươi quên đi.
– Bẩm, thuộc hạ không quên được.
– Thì ngươi giả như quên. – Ông khoát tay. – Ra đi. Lần sau ngươi lên mà còn nói câu ấy, ta không cho Lục Hỉ ra đón ngươi nữa đâu.
Thiết vái, lùi ra. Ra đến hiên, anh nghe tiếng mõ gỗ lại vang lên trong gian giữa. Gõ một tiếng. Rồi rất lâu sau mới gõ tiếng thứ hai.
Chiều hôm ấy, Bạch Văn Dụng về lán.
Thiết thấy hắn lúc giờ Dậu, khi lán cơm đông nhất. Hắn đi xuống từ cổng phụ, hai người lính đi kèm hai bên đến tận đầu dãy lán thợ cả rồi đứng lại đó, dựa giáo vào gốc sau sau. Dụng gầy rộc đi. Mặt hắn xám như tro bếp nguội, một bên má vẫn còn sưng, vết rách ở môi đã đóng vảy. Hắn đi thẳng vào lán cơm, gỡ cái thẻ chữ thập ở cọc trưa đã treo im từ mùng sáu, chuyển sang cọc tối, rồi chìa bát.
Nghiên xới cho hắn một bát đầy, rồi lặng lẽ múc thêm một bát cháo nóng đặt bên cạnh. Hắn nhìn bát cháo, rồi nhìn nàng, mắt đỏ lên. Hắn không nói gì. Hắn mang hai cái bát ra ngồi ở góc lán, chỗ ông Lương hay ngồi, ăn bằng tay trái, ăn rất chậm.
Thiết đợi đến lúc lán vãn người mới đến ngồi đối diện.
– Chú về được rồi.
Dụng không ngẩng lên.
– Họ có đánh chú nữa không?
– Không. – Hắn nói nhỏ như hơi thở. – Từ hôm xét thì không.
– Chú có cần gì không?
Dụng lắc đầu. Hắn ăn hết bát cơm, rồi bát cháo, rồi ngồi im, hai tay ôm cái bát rỗng như người ta ôm lò sưởi. Ngoài cửa, hai người lính đã đổi chỗ, đứng ngay đầu lối đi vào lán cơm, mặt quay ra bãi.
– Cậu Thiết – Dụng nói, mắt vẫn nhìn vào lòng bát. – Đêm hôm qua, sau phiên xét, có người đến chỗ giam tôi.
– Ai?
– Không biết. Cái người trùm áo tơi. Cái người tôi kể với cậu, hay đứng ở cửa hang nhìn đá. – Hắn nuốt khan. – Người ta đứng ngoài chấn song. Không nói câu nào. Người ta cầm cái gì đấy gõ lên cột cửa. Cộc. Cộc. Như thầy lang gõ ngực người ốm xem phổi rỗng hay đặc. Gõ một hồi rồi đi.
– Rồi sao?
– Rồi sáng nay đội trưởng bảo tôi về lán. – Dụng đặt cái bát xuống. Tay hắn run. – Tôi không biết tôi về để làm gì, cậu ạ. Tôi về hay tôi bị đem ra để người ta xem.
Thiết nhìn hắn. Anh nghĩ tới hai người lính đứng ở đầu lối đi. Anh nghĩ tới câu Phùng công công nói ban trưa: ta cho nó về lán, có người trông, để nó biết là ta xét có trước có sau.
– Đêm nay chú ngủ ở đâu?
– Ở lán tôi. Lính bảo thế.
– Cài then cho chặt. Có ai gõ thì chú đừng mở. Sáng mai cháu sang.
Dụng gật đầu. Hắn đứng dậy, đặt bát vào chậu, rồi đi ra. Hai người lính bám theo hắn lên dãy lán thợ cả.
Tối ấy, ở điếm tuần, Thiết trải tờ giấy của Mẫn đại nhân ra mặt bàn lần nữa. Huyền cung cửu tượng danh. Chín cái tên, chín cái dấu. Ông Tòng đã ngủ. Mậu ngồi vót que tre, thỉnh thoảng lại ngáp. Anh lấy than gạch hai cái tên. Ba gợn sóng. Hạt thóc.
– Anh Thiết – Mậu nói. – Ông Lương được tha rồi cơ mà. Anh còn lo cái gì?
Thiết nhìn chín cái tên. Mậu mười chín tuổi, lắm lời, không giữ được cái gì nặng quá lâu trong miệng. Anh không kể.
– Lo là người ta vẫn đang đếm – anh nói. – Mày ngủ đi. Mai mày canh lán lão Dụng cho tao. Ngồi ở quán bà Gừng, uống nước chè, nhìn cái cửa lán ấy. Ai ra ai vào, mày nhớ hết.
Ngày mười hai trôi qua mà không có chuyện gì. Dụng không lên núi. Hắn ngồi trong lán cả ngày, đến bữa thì xuống lán cơm, ăn xong lại về, hai người lính lúc nào cũng cách hắn mười bước. Mậu uống hết bốn ấm chè ở quán bà Gừng, chạy về điếm báo ba lần, lần nào cũng một câu: chẳng có ai ra vào cả, anh ạ.
Đêm mười hai, trăng sáng. Trăng đã quá nửa vành, treo trên đỉnh Bàn Long đến tận quá nửa đêm mới chịu ngả về tây. Mậu ngồi trong bóng tối dưới mái hiên quán bà Gừng, quấn chăn, nhìn lên dãy lán thợ cả bạc trắng dưới trăng. Hai người lính canh đốt một đống lửa nhỏ trước lán Dụng, ngồi hơ tay. Đến canh ba thì một người ngủ gục. Đến canh tư thì người kia cũng gục. Mậu thề với Thiết sáng hôm sau là lúc ấy nó vẫn thức, mắt vẫn nhìn cái cửa lán. Cái cửa không mở lần nào.
Sáng mười ba, gà gáy lượt hai, Mậu chạy về điếm, tóc tai rũ rượi, mặt cắt không còn hột máu.
– Anh Thiết. Lão Dụng.
Thiết bật dậy khỏi chõng.
– Chết rồi à?
– Không biết. – Mậu thở dốc. – Lính gõ cửa gọi đi ăn sáng, không ai thưa. Họ phá cửa vào. Lán trống trơn. Chăn chiếu còn nguyên đấy. Đôi dép còn nguyên dưới gầm giường.
Nó ngừng lại, nuốt nước bọt.
– Mà cái then cửa, anh ạ. Then vẫn cài ở bên trong.
— Hết chương 19 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe