Chương 25: Thị lang bỏ trốn
Quan Thị lang bộ Công mặc áo vải nâu của nhà buôn, đội nón lá, ngồi co ro trên một cái hòm gỗ ở mũi thuyền. Thiết nhận ra ông từ cách hai mươi bước, vì không người buôn nào lại đeo ba cái nhẫn vàng.
Bến sông Bích lúc tờ mờ sáng hai mươi ba tháng Một đông như chợ. Thuyền chở gạo, thuyền chở vôi, thuyền chở củi đậu san sát, mui nối mui. Người gánh hàng chen nhau xuống bến, tiếng gọi đò, tiếng mặc cả, tiếng gà vịt kêu trong lồng. Sương trên mặt sông dày như bông, những cánh buồm nâu mờ mờ như bóng ma. Ba cái xe trâu phủ chiếu đỗ ở đầu bến, mấy tên gia nhân đang hì hục khiêng hòm xuống một cái thuyền mui cao.
Thiết đi thẳng xuống, ông Tòng lững thững theo sau. Anh dừng lại ở mép ván cầu, cạnh mũi thuyền.
– Bẩm quan Thị lang. Đi sớm thế ạ?
Bành Tự Khiêm giật nảy người như bị ong đốt. Cái nón lá rơi xuống sàn thuyền. Ông nhìn Thiết, nhìn ông Tòng, nhìn quanh bến, rồi mặt ông từ trắng bệch chuyển sang xám ngoét.
– Ngươi… Ngươi không có quyền giữ bản quan. Bản quan là quan triều đình, bản quan đi đâu là việc của bản quan…
– Dạ, thuộc hạ biết. Thuộc hạ không giữ.
– Thế ngươi đến đây làm gì?
– Đến hỏi quan Thị lang sợ cái gì mà phải mặc áo nhà buôn.
Ông Bành há miệng, rồi ngậm lại. Hai tay ông bấu vào nhau, ba cái nhẫn lại va vào nhau lách cách như hôm ở nhà đốc công. Rồi, như một cái bao tải bị rạch, cả người ông xẹp xuống.
– Bổ đầu Ứng – ông nói, giọng run bắn. – Ngươi bắt bản quan đi.
Thiết không nghe nhầm. Ông Tòng đứng sau lưng anh khẽ ho một tiếng, nghe như tiếng cười bị nén.
– Bẩm, thuộc hạ không có cớ gì bắt quan Thị lang.
– Thì ngươi kiếm cớ. – Ông Bành ngó quanh, rồi chồm người lên, nắm lấy tay áo Thiết. – Giam bản quan ở huyện. Giam ở huyện, có lính huyện canh. Đừng giao bản quan cho bên lăng. Đừng để bản quan đi đường sông một mình. Ngươi muốn hỏi gì bản quan cũng nói.
Huyện nha Thạch Bích chưa bao giờ có một vị Thị lang bộ Công tự xin vào ở. Tri huyện Nhữ nghe Thiết kể thì ngồi ngây ra một lúc, rồi sai dọn gian buồng phía đông, cái gian ông vẫn dành cho khách từ phủ xuống. Ông không gọi là giam. Ông gọi là quan Thị lang về huyện nghỉ chân. Ông cắt hai lính huyện đứng ở cửa, rồi cho dọn lên một mâm cơm nóng, có cả cá kho và canh cua rau đay.
Ông Bành không ăn. Ông ngồi trên sập, ôm cái gối, mắt đỏ kè như người cả đêm không ngủ.
– Hôm kia – ông nói, khi trong buồng chỉ còn Thiết, ông Nhữ và ông Tòng. – Tối hôm kia, bản quan về buồng ngủ, thì thấy trên gối có một tấm vải trắng. Gấp vuông vắn, đặt ngay giữa gối. Không có chữ. Không có gì cả. Gia nhân không ai thấy người vào.
– Vải trắng gì? – Ông Nhữ hỏi.
– Vải liệm. – Ông Bành rùng mình. – Đúng loại vải đã đắp cho thằng Tảo. Bản quan thấy ở đám. Loại vải ấy ở chợ huyện không bán, phải mua trên phủ thành.
Thiết nhớ tới cái hộp gỗ Tư Cối đặt lên bàn lán cơm sáng hai mươi bảy tháng Mười. Hai xâu tiền, một gói hương trầm, một tấm vải trắng.
– Cũng hôm ấy – ông Bành nói tiếp – bản quan nghe tin đêm hai mươi lăng binh lên đèo Dốc Gió bắt thợ cả. Bắt được một đứa, gãy chân một đứa. Bản quan nghĩ: thợ cả đã chạy, mà còn bị đuổi tới tận đỉnh đèo. Bản quan thì là cái gì? Bản quan béo thế này, chạy được bao xa?
– Quan Thị lang sợ ai? – Thiết hỏi.
Ông Bành nhìn anh. Rồi ông nhìn ông Nhữ, nhìn ông Tòng, nhìn cái cửa buồng có hai lính huyện đứng gác.
– Ngươi còn nhớ hôm ở nhà đốc công, ngươi hỏi bản quan bản vẽ bổ sung là của ai không?
– Dạ.
– Bản quan bảo không nhớ. – Ông nuốt khan. – Bản quan nói dối. Bản quan nhớ. Bản quan nhớ vì người vẽ nó tặng bản quan một bức chữ.
Ông kể. Kể như người ta trút một bao gạo mục ra sân, hạt nào cũng có mọt.
Bản vẽ huyền cung do Khâm thiên giám vẽ, bộ Công duyệt từ năm khởi công. Năm ấy, trong bản vẽ, chân vòm phía tây không có đá chốt, cũng không có nêm. Hai chân vòm đông tây giống hệt nhau, đối nhau như hai bàn tay chắp. Cửa đá có đá lăn tự khoá, nhưng đá lăn chạy trong rãnh ở cửa, không liên quan gì đến chân vòm.
Tháng Bảy năm nay, khi vòm đông đã lên được quá nửa, Mẫn đại nhân gửi sang bộ Công một tập bản vẽ sửa. Trong ấy, chân vòm tây được thêm một khối đá chốt, ghi là chốt hãm cho đá lăn, vì đất phía cửa yếu, phải có chỗ níu. Rồi đến tháng Tám lại thêm tờ bổ sung: mười một phiến nêm ôm quanh đá chốt, ghi là chèn chân cho vững vì đất chân vòm tây lún.
– Bản quan có hỏi – ông Bành nói. – Bản quan bảo chốt hãm đá lăn sao lại đặt ở chân vòm, cách cửa những ba chục bước. Mẫn đại nhân bảo đá lăn có đường ngầm chạy dưới nền, nối đến đấy. Bản quan không hiểu. Bản quan là quan bộ Công, nhưng bản quan xuất thân thư lại, bản quan không biết đặt đá. Mẫn đại nhân giảng một hồi, rồi để lại cho bản quan một bức chữ thảo viết bốn chữ "thanh liêm chính trực", với một cái nghiên mực đá quý. Bản quan đóng dấu.
– Bốn chữ thanh liêm chính trực – ông Tòng nhắc lại, giọng tỉnh như không. – Lão mà là quan Thị lang thì lão cũng đóng dấu.
Ông Nhữ lừ mắt nhìn ông Tòng. Ông Bành không để ý.
– Còn nữa. – Ông lau mồ hôi trán, dù trời lạnh. – Ngày duyệt cung là Mẫn đại nhân chọn, cả triều đều biết. Nhưng cái lệ chín thợ cả quỳ trong huyền cung đợi giá, không được thay người, thì không phải lệ cũ. Bộ Lễ không có lệ ấy. Đời trước duyệt lăng chỉ có quan theo hầu. Lệ ấy là Mẫn đại nhân xin. Ông ấy dâng tờ tâu lên bộ Lễ hồi tháng Tám, bảo thợ cả dựng huyền cung có công, nên cho được quỳ dưới vòm mình dựng mà đón vua, đó là ân điển. Bộ Lễ khen ông ấy thương thợ. Bản quan cũng ký vào tờ tâu ấy. – Ông cười, một tiếng cười méo. – Ông ấy thương thợ lắm.
Không ai trong buồng nói gì. Ngoài sân huyện nha, có tiếng người lính quét lá bàng, xoẹt, xoẹt.
Thiết ngồi im, nghĩ về những điều vừa nghe. Cái chốt không có trong bản vẽ đầu. Cái chốt được thêm vào tháng Bảy, khi vòm đông đã quá nửa, khi đã muộn để ai hỏi han. Mười một phiến nêm thêm vào tháng Tám, mà từ tháng Bảy Vạn đã gọi Dụng vào, đưa cho Dụng khuôn gỗ và bản vẽ phiến nêm cuộn trong ống tre. Đá giả được đặt đục trước cả khi bản vẽ được duyệt. Và cái lệ chín thợ cả quỳ, cũng tháng Tám.
Rồi ngày mồng chín tháng Chín, một tờ giấy vàng bảo giết chín thợ cả trước ngày duyệt cung.
Hai thứ ấy, một thứ bảo họ phải quỳ ở đấy, một thứ bảo họ phải chết trước ngày ấy. Anh đã nghĩ một trong hai tờ không phải của cùng một chỗ. Bây giờ anh nghĩ khác. Có khi cả hai tờ đều từ một chỗ ra. Người muốn họ chết trước ngày ấy, nếu không giết được hết, thì cũng muốn những người còn sống phải quỳ đúng chỗ ấy, vào giờ ấy.
– Quan Thị lang – anh hỏi. – Mẫn đại nhân có bảo vì sao ông ấy chọn ngày mười bảy tháng Chạp không?
– Bảo sao Thiên Đức chiếu huyệt, trăm năm có ba ngày. – Ông Bành nhún vai. – Khâm thiên giám nói sao thì là sao. Ai dám cãi sao trên trời.
– Bản vẽ gốc của năm khởi công, giờ ở đâu?
– Một bản ở bộ Công trong kinh. Một bản ở chỗ Giám lăng. Bản ở lăng thì Mẫn đại nhân mượn từ tháng Bảy để sửa, không biết đã trả chưa.
Ông Nhữ đứng dậy, đi ra cửa sổ, đứng quay lưng lại. Thiết thấy hai vai ông run lên. Không phải vì lạnh.
– Quan Thị lang – ông Nhữ nói, không quay lại. – Những lời này, quan có dám nói trước mặt người trong kinh xuống xét không?
– Bản quan dám. – Ông Bành nói, rồi ngập ngừng. – Nếu bản quan còn sống đến lúc ấy.
– Thì quan ở đây. – Ông Nhữ quay lại. Mặt ông tái nhưng giọng không run. – Ở huyện ta. Ta không có lệnh bài đầu hổ, ta chỉ có bốn chục lính huyện với cái cổng tam quan tróc sơn. Nhưng chưa ai vào đây mà ta không biết.
Ông Bành nhìn ông Nhữ. Lần đầu tiên Thiết thấy vị Thị lang ấy nhìn ai đó mà không có vẻ khinh, cũng không có vẻ sợ. Ông chắp tay, cúi đầu thật thấp.
– Đội ơn quan huyện.
Ra khỏi buồng, ông Nhữ kéo Thiết ra góc hành lang.
– Chú Thiết – ông nói thật khẽ. – Ta không hỏi chú cái điều chú không nói được. Nhưng ta hỏi chú một câu thôi. Mẫn đại nhân là người đã dâng sớ tố Bành với Vạn. Chính miệng ông ấy nói ở phiên xét, ông ấy dâng từ hôm mùng bảy. Nếu ông ấy là người làm việc này, thì ông ấy dâng sớ tố người khác làm gì?
– Bẩm, thuộc hạ cũng đang nghĩ câu ấy.
– Nghĩ ra thì bảo ta.
Thiết quay sang ông Tòng, người vẫn đứng lặng lẽ dựa cột, mắt lim dim.
– Chú Tòng. Chú quen người ở trạm Thạch Bích không?
Ông Tòng mở mắt.
– Lão Ất trưởng trạm hồi trẻ đi lính trạm với lão. Ba mươi năm rồi, hai thằng vẫn uống rượu với nhau mỗi Tết.
– Cháu nhờ chú hỏi lão Ất một việc. Từ mùng một đến nay, ngựa trạm có mang tờ sớ nào của Khâm thiên giám từ lăng đi kinh không.
Ông Tòng gật đầu. Ông không hỏi để làm gì.
Ông đi từ trưa. Đến chập tối thì về, người nồng mùi rượu, mặt đỏ, nhưng mắt thì tỉnh như sáo. Ông ngồi xuống bậc thềm điếm tuần, nơi Thiết đã đợi từ chiều, cởi giày ra đổ sỏi như mọi lần.
– Lão Ất uống hết của lão một be rượu mới chịu nói – ông bảo. – Mà nói thì nói trơn tru. Từ mùng một tháng Một đến hôm nay, ngựa trạm Thạch Bích đi kinh mười bốn lượt. Lượt nào cũng có công văn của lăng, của bộ Công, của huyện. Có cả hai tờ của quan Thị lang Bành gửi về nhà.
Ông ngừng lại, xỏ giày vào.
– Không có lượt nào mang tờ gì của Khâm thiên giám. Từ đầu tháng đến giờ, nhà khách lăng không gửi đi một tờ giấy nào.
— Hết chương 25 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe