Chương 21: Cửa đá tự khoá
– Cúi xuống. Phu thì không nhìn lính.
Ông Lương nói khẽ, không quay lại. Thiết cúi đầu, vai gánh một đôi quang, đầu này là bó đục bọc vải, đầu kia là hai cái đèn dầu lạc và một vò nước. Áo nâu vá vai của ông Tòng hơi chật ở nách. Mặt anh bôi nhọ nồi trộn bùn đã khô, căng rát hai bên má.
Chập tối rằm tháng Một. Mặt trời vừa lặn sau núi thì ở phía đông, trên rặng đồi gốc rạ, mặt trăng tròn vành vạnh đã nhô lên, to và vàng như cái mâm đồng. Trên sân chầu, bốn người lính gác cửa vòm tiện đạo đang thay phiên. Thằng Bính là một trong bốn người mới đến. Nó nhìn ông Lương, nhìn cái gánh, nhìn cái mặt lấm nhọ của người phu, rồi nhìn đi chỗ khác thật nhanh.
– Thợ cả Lương xuống lau cửa – người lính già nhất nói, đọc tờ thẻ ông Lương đưa. – Mang một phu. Ra trước giờ Hợi.
– Biết rồi.
Hai cánh cửa gỗ lim mở ra. Một luồng hơi lạnh từ dưới lòng đất phả lên, không giống hơi lạnh của sương núi. Nó ẩm, nặng, có mùi đá ướt và mùi vôi.
Tiện đạo là một con đường dốc thoai thoải đi xuống, rộng đủ cho bốn người đi hàng ngang, vách và trần lát đá xanh. Cứ hai mươi bước lại có một cái hốc nhỏ trên vách để đặt đèn. Ông Lương châm đèn ở từng hốc một. Ánh lửa vàng nhỏ xíu, vừa đủ soi mặt đá trước mặt. Tiếng chân hai cha con dội lại từ phía trước, như có người khác đang đi lên đón.
Thiết đếm bước. Một trăm hai mươi bước thì đến cái cửa đá.
Anh đứng lặng trước nó. Hai cánh cửa bằng đá xanh nguyên khối, mỗi cánh cao gấp rưỡi người, dày bằng một gang tay, mặt ngoài chạm hoa văn mây cuốn còn dở dang ở phần dưới. Hai cánh không có bản lề như cửa gỗ. Chúng xoay trên hai cái trụ đá chôn sâu xuống nền và cắm lên trần. Dưới chân hai cánh, giữa nền, có một cái rãnh cong như vành trăng khuyết.
– Đá lăn đặt vào rãnh ấy – ông Lương nói, chỉ tay. – Cửa mở thì đá lăn nằm ở đầu rãnh, sát vách. Cửa đóng lại thì cánh cửa đẩy nó chạy theo rãnh vào giữa, rơi xuống một cái hố nông. Từ bên ngoài đẩy vào thì nó không lên được nữa. Cửa tự khoá. Muốn mở chỉ có cách từ bên trong.
– Cha làm cái này từ bao giờ?
– Từ tháng Năm. Đục hai cánh mất năm tháng. Còn chạm nốt cái chân mây ở dưới, còn mài khớp trụ. – Ông Lương đặt tay lên cánh cửa, xoa xoa như xoa lưng con trâu. – Ngày đưa quan tài vào thì đóng nó lại. Rồi không ai mở nữa.
Họ lách qua khe cửa đang mở hé, bước vào huyền cung.
Thiết đã nghe kể về huyền cung từ bốn năm nay. Người ở huyện nói về nó như nói về một cái chùa dưới lòng đất. Nhưng nghe kể không giống đứng ở đây.
Đó là một gian rộng như gian giữa của ba cái đình ghép lại, nền lát đá xanh phẳng lì. Ở hai bên, hai cái vòm đá cong vút lên từ chân tường, gặp nhau ở đỉnh, cao gấp ba lần người đứng. Ông Lương thắp hai cây đèn lớn đặt trên hai cái chân đèn đá, và cái vòm hiện ra từ bóng tối như một cái lưng rùa khổng lồ đang khom xuống trên đầu họ. Từng phiến đá vòm vát chéo xếp khít nhau, mạch vữa mảnh như sợi chỉ. Ở giữa gian là cái bệ quan quách bằng đá trắng, bốn mặt chạm rồng mây, chạm đến từng cái vảy. Trên hai vách, chạy suốt từ cửa vào đến cuối gian, là những bức chạm nổi: núi, sông, ruộng lúa, người cày, người gặt, chim bay thành đàn.
– Thằng Tống chạm – ông Lương nói. – Nó không nghe được, nên nó nhìn. Nhìn cái gì nó cũng nhớ.
Thiết đứng ngửa cổ nhìn cái vòm. Hồi nhỏ, ngồi xem cha đục, anh đã thấy cả nghìn phiến đá vòm, nhưng là từng phiến một, nằm trên bãi. Chưa bao giờ anh thấy chúng đứng lên với nhau như thế này. Anh hiểu vì sao người ta bảo ông Tảo thờ cái vòm.
– Lại đây.
Ông Lương cầm một cây đèn nhỏ, đi về phía vách tây, vào sâu phía trong, ngang với bệ quan quách, đến chỗ chân vòm phía tây cắm xuống nền. Ở đây, sát mặt nền, có một khối đá to hơn hẳn những phiến xung quanh, vuông vức, mặt ngoài đục nhẵn. Hai bên và phía trên nó, ôm lấy nó, là một hàng những phiến nêm đầu to đầu nhỏ, xanh sẫm, mịn, trông y như đá vòm.
– Đá chốt của tao – ông Lương nói.
Thiết quỳ xuống. Anh đưa tay sờ lên mặt khối đá. Đá xanh, hạt mịn, mát lạnh. Đường đục đều như người ta kẻ bằng thước. Anh lần khắp mặt đá, tìm một chỗ sứt to bằng hai móng tay cái. Không có.
– Không phải mặt này – ông Lương nói. – Mảnh ấy có dấu tao. Dấu tao đục ở mặt khuất, mặt quay vào trong, phòng lương đếm dấu ở đấy. Mặt khuất của cái chốt nằm sâu dưới nền, không ai với tới. Thằng Tảo gõ được vào đấy bằng cách nào thì tao không biết. Tao hỏi, nó không nói.
– Gõ thì làm sao?
– Nó gõ bằng cái búa con, gõ một nhát nhẹ thôi. Đá bật ra một vảy. Đá không chịu gì thì gõ thế không bật. Đá đang bị đè thì mới bật.
– Mảnh ấy cô Nghiên giữ.
– Tao biết.
Ông Lương ngồi xuống nền đá, ngay bên cạnh con, lưng dựa vào chân vòm. Ông đặt cây đèn xuống giữa hai người.
– Giờ thì mày nghe. Nghe ở đây thì mày hiểu.
Đêm hai mươi lăm, ông Tảo sang lán ông Lương lúc đầu giờ Tuất. Ông Tảo đặt cái mảnh đá sứt lên bàn. Rồi ông Tảo nói, nói một mạch, như người đã nghĩ suốt ba ngày, mỗi chữ đã mài sẵn.
Ông Tảo bảo: mười một phiến nêm ôm quanh đá chốt của mày là đá vôi. Thằng Dụng đục trong hang Rùa, nhuộm nước vỏ dẻ. Tao đã quỳ xem nó làm. Đá vôi thì không chịu nặng được lâu. Mà vòm phía trong không tì vào chân vòm như bản vẽ ghi. Nó tì vào cái chốt của mày. Bản vẽ ghi chốt không chịu gì, chỉ để giữ đá lăn. Bản vẽ nói dối. Cái chốt của mày đang đỡ nửa cái vòm.
– Tao không tin – ông Lương nói, mắt nhìn ngọn đèn. – Tao bảo nó nói nhảm. Tao đục cái chốt ấy theo bản vẽ, tao đặt nó vào chỗ theo bản vẽ, tao đo từng ly. Nó bảo bản vẽ sai, tức là nó bảo tao sai. Bốn mươi năm tao chưa sai. Tao quát nó. Tao bảo mày làm vỡ đá tao. Nó đi ra, đóng sầm cửa.
– Rồi cha mài đục.
– Ừ. Mài đến canh hai. – Ông cười, một tiếng cười không có hơi. – Mài cho hết giận. Mài đến lúc hết giận thì tao thấy nó nói đúng. Không phải đúng về đá. Đúng về tao. Tao giận vì tao sợ nó đúng.
– Thế rồi cha đi xuống lán cơm.
– Tao đi tìm nó. Tao định bảo nó: mai tao với mày xuống xem lại. Lán nó tối om. Tao nghĩ nó ra lán con gái nó. Tao xuống lán cơm. Nó không ở đấy. Con bé đang múc cháo. Tao ngồi xuống, ăn một bát, đợi nó về. – Ông ngừng lại. – Con bé hỏi tao có gặp cha nó không. Tao bảo có, nó về lán nó rồi.
Thiết quay sang nhìn cha.
– Cha nói dối cô ấy.
– Tao nói cho nó yên mà đi ngủ. Tao tưởng thằng Tảo đi đâu đấy một tí rồi về. – Bàn tay phải của ông Lương nắm lại trên đầu gối. – Tao ngồi đến hết giờ Hợi. Rồi tao về lán. Sáng ra thằng Ốc thấy cha nó ở dưới suối.
Ngọn đèn dầu đứng im. Không có gió ở dưới này. Chỉ có tiếng nước rỉ rất nhỏ ở đâu đó dưới nền, tách, tách, như tiếng đồng hồ nước trong chùa.
– Đêm hai sáu – ông Lương nói tiếp – mày lên lán tao, mày bảo ông Tảo không chết đuối, có người đánh sau gáy rồi kéo ra cầu. Mày đi rồi, tao lấy cái thẻ xuống lau cửa, tao xuống đây. Một mình. Tao mang theo cái búa con.
Ông đưa tay chỉ lên những phiến nêm quanh đá chốt.
– Tao gõ từng phiến. Đá xanh gõ kêu boong, trong, ngân. Mấy phiến này gõ kêu bộp. Như gõ vào cục đất nện. Mười một phiến, phiến nào cũng bộp. Rồi tao gõ cái chốt của tao. – Ông im một lúc lâu. – Nó kêu căng. Như sợi dây đàn người ta lên quá tay. Đá chịu nặng thì nó kêu thế. Tao nghe tiếng đá cả đời, tao không nghe nhầm.
– Cha tin từ đêm ấy.
– Tin từ đêm ấy. – Ông Lương gật đầu. – Thằng Tảo nói đúng. Thằng Tảo biết. Thằng Tảo chết. Tao ngồi ở đây đến gần sáng. Tao nghĩ: đứa nào giết thằng Tảo vì nó biết, thì đứa ấy sẽ giết đứa nào biết tiếp. Mà mày thì đang đào. Mày đào khéo lắm, mày đào giống tao hồi trẻ. Mày mà đào tới đây thì mày là đứa tiếp theo.
– Nên cha bảo con đừng lên núi nữa.
– Mày không nghe.
– Nên cha nhận tội.
Ông Lương không trả lời. Ông chỉ nhìn con trai. Dưới ánh đèn, khuôn mặt ông như một khối đá cũ, vết đục chằng chịt, nhưng ở hai khóe mắt có cái gì đó ướt lấp lánh.
Thiết cúi xuống nhìn hai bàn tay mình. Tay anh lấm nhọ nồi, lấm bụi đá. Bàn tay của một người đã bỏ đục mười bảy năm.
– Năm con mười bảy tuổi – anh nói – cha bảo con đi thì đừng về. Con tưởng cha giận vì con đi làm chó săn cho nha môn.
– Tao giận thật.
– Giận vì sao?
Ông Lương nhìn lên cái vòm trên đầu một hồi lâu.
– Vì mày giỏi. – Ông nói. – Mười sáu tuổi mày đục bờm sư tử, tao đứng xem mà lạnh gáy. Tao ngoài bốn mươi mới đục được như thế. Thằng con có đôi tay như thế mà vứt đục đi làm nha lại. Tao giận như người ta giận ai đánh vỡ cái bát quý nhất nhà. – Ông ngừng. – Rồi mày đi thật. Tao không biết gọi mày về thế nào. Tao chỉ biết đục đá.
Hai cha con ngồi im rất lâu. Ở trên kia, bên ngoài, chắc trăng rằm đã lên cao. Ở dưới này chỉ có hai cây đèn và cái vòm cong.
– Cha – cuối cùng Thiết hỏi. – Bản vẽ cái chốt này là của ai?
– Của bên Khâm thiên giám. Mẫn đại nhân vẽ. Có dấu bộ Công duyệt.
– Cha có nghi ông ấy không?
Ông Lương lắc đầu, chậm rãi.
– Ông ấy vẽ đẹp lắm. Nhưng ông ấy không phải thợ. Người vẽ thì vẽ trên giấy, giấy không có sức nặng. Người vẽ có thể nhầm. Thợ thì không được nhầm, vì thợ đặt đá. – Ông đứng dậy, chống tay vào chân vòm. – Tao đặt sai. Tao chịu.
– Cha đặt đúng bản vẽ.
– Thì bản vẽ sai, tao đặt theo, tao vẫn là đứa đặt. – Ông cầm cây đèn lên. – Đi. Gần giờ Hợi rồi.
Thiết không đứng dậy ngay. Anh nhìn khối đá chốt, nhìn những phiến nêm xanh sẫm ôm quanh nó. Rồi anh ngẩng lên nhìn nửa cái vòm phía trong, cái phần vòm đang cong xuống trên bệ quan quách, trên chỗ mà ngày duyệt cung Hoàng thượng sẽ đứng, chín thợ cả sẽ quỳ.
– Cha. Nếu cái chốt này không còn ở đây nữa thì sao?
Ông Lương đã đi được mấy bước về phía cửa. Ông dừng lại. Không quay đầu.
– Cái chốt này mà rút ra – ông nói – thì ai đang đứng dưới nửa vòm bên trong…
Ông không nói hết câu. Từ phía tiện đạo vọng xuống tiếng người lính gọi, tiếng gọi dội đi dội lại giữa hai vách đá, nghe như có mười người cùng gọi.
– Thợ cả Lương! Hết giờ!
— Hết chương 21 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe