AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Một trăm bốn mươi cái thẻ tre

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Một trăm bốn mươi cái thẻ tre

Canh năm, khi gà ở mấy lán phu mới gáy lượt đầu, lán cơm của Nghiên đã sáng ba bếp lửa.

Thiết đến sớm. Anh không đến hỏi chuyện. Anh đến ăn sáng như mọi người thợ khác, đứng xếp hàng sau một ông thợ đẽo mặt rỗ và trước hai anh phu khiêng đá. Hàng người dài từ cửa lán ra tận gốc gạo ngoài bãi, ai cũng co ro, hơi thở phả ra thành khói, tay xoa vào nhau sồn sột. Trên đầu, trời đen thẫm, sao còn dày. Từ dưới chân núi bốc lên mùi cơm mới, mùi canh rau cải nấu với tôm khô, mùi khói củi sau sau.

Vào tới cửa lán thì anh thấy cái vách.

Đó là bức vách đất dài nhất của lán, quét vôi trắng, đóng bốn hàng cọc tre ngang. Trên mỗi hàng cọc treo lủng lẳng những cái thẻ tre bằng hai ngón tay, dài một gang, đầu đục lỗ xâu dây. Trên mỗi thẻ có một dấu khắc. Một vòng tròn. Một chữ thập. Ba chấm. Một cái lá. Một con cá. Một cái móc. Hàng trên cùng có viết chữ to bằng than: sáng. Rồi trưa. Rồi tối. Rồi khuya.

Người thợ mặt rỗ đứng trước Thiết với tay lên hàng cọc "khuya", gỡ một cái thẻ có hình cái móc câu, chuyển sang hàng cọc "sáng", rồi chìa bát ra. Nghiên đứng sau nồi cơm, không ngẩng lên, xới một bát đầy, chan canh, gắp ba miếng cà, đưa ra. Rồi tới người tiếp theo. Rồi người tiếp theo.

Đến lượt Thiết, anh đặt sáu đồng xuống cái mẹt đựng tiền.

– Tôi không có thẻ.

Nàng ngẩng lên. Một thoáng, mắt nàng có vẻ ngạc nhiên. Rồi nàng xới cơm cho anh, chan canh, đưa ra, không nói gì, và gọi người sau.

Anh mang bát cơm ra ngồi ở góc lán, chỗ có cái bàn dài kê sát vách thẻ. Ăn được nửa bát thì hàng người đã vãn. Thợ ăn nhanh như chạy giặc, ăn xong là xách đục lên núi. Đến lúc trời hửng xám, trong lán chỉ còn một bàn thợ cả ngồi lại, ăn chậm hơn.

Nghiên cầm muôi đi ra, đứng trước vách thẻ.

– Ông bổ đầu nhìn cái vách mãi thế, muốn hỏi gì thì hỏi.

– Thẻ này của ai làm?

– Của từng người tự khắc. Ai vào lăng làm thợ cũng phải đăng một cái dấu ở phòng lương, đục lên mặt khuất của mỗi phiến đá. Cuối tháng thư lại đếm dấu mà trả công. Tôi bắt chước cái lệ ấy. Ai ăn cơm lán tôi thì khắc dấu mình lên thẻ, ăn bữa nào chuyển thẻ sang cọc bữa ấy, tôi khía một khía vào lưng thẻ. Bữa sáng khía thẳng, bữa trưa khía chéo, bữa tối khía hai, cháo khuya thì một khía ngắn tí. Cuối tháng tôi đếm khía mà thu tiền. Một trăm bốn mươi thợ, một trăm bốn mươi cái thẻ. Phu thì ăn cơm quan, không ăn ở đây.

– Cô nhớ hết dấu của từng người?

– Không nhớ thì thu tiền ai? – Nàng chỉ muôi vào từng cái. – Cái móc câu là anh Ri làng Chài. Cái lá là chú Lộ. Hai chấm là chú Tứ. Cành trúc là anh Cốm. Con cá là ông Hoành, nhưng ông ấy về quê hôm mồng một rồi, thẻ ông ấy tôi để ở đây cho khỏi lẫn.

Muôi nàng dừng ở một cái thẻ treo một mình trên hàng cọc "tối". Ba gợn sóng.

Nàng không nói gì. Thiết cũng không. Chiếc thẻ đã treo ở cọc tối từ giờ Dậu hôm hai mươi lăm, khi ông Tảo ăn bữa cơm cuối cùng. Không ai chuyển nó đi nữa.

Ở hàng "sáng", lẫn giữa mấy chục cái thẻ vừa chuyển sang, có một cái thẻ khắc hình cánh én. Cha anh đã ăn xong và lên núi từ trước khi anh đến. Thiết nhìn cái thẻ ấy một lúc rồi quay mặt đi.

– Ông bổ đầu ngồi đấy với các chú – Nghiên nói, rồi đi vào bếp.

Bàn thợ cả có năm người. Thiết biết mặt họ, nhưng chưa ngồi chung bao giờ. Ông Mười Rổ già nhất, sáu mươi lăm tuổi, đầu trọc lốc, hàm răng móm, dấu là hai nét đan chéo như mắt rổ nên người ta gọi theo dấu. Ông Kim Thọ to béo, mặt hồng hào, dấu là hạt thóc. Ông Tống Văn Ngãi điếc từ bé, ai cũng gọi ông Tống Điếc, dấu là cái vòng tròn có chấm ở giữa. Bạch Văn Dụng gầy nhom, mặt dài, dấu chữ thập. Và một người trẻ là Lý Cốm, hai mươi chín tuổi, thợ cả trẻ nhất huyền cung.

Ông Mười Rổ đẩy về phía Thiết một đĩa lạc rang.

– Cậu ăn đi. Ông Tảo nhà này hay mua lạc của bà Gừng, ngon nhất bãi.

– Các chú làm với ông Tảo bao lâu?

– Bốn năm. Từ ngày đào móng. – Ông Mười Rổ nhai lạc bằng lợi. – Chín đứa thợ cả, ông Tảo đứng đầu, cha cậu thứ nhì. Huyền cung là chín đứa này dựng, từng phiến một. Vòm hợp long hôm hai mươi, trên ban mỗi đứa một quan, quan Thị lang mang xuống tận nơi. Ông Tảo không lấy.

– Sao không lấy?

– Ông ấy bảo chưa xong. – Ông Mười Rổ liếc sang Bạch Dụng. – Ông ấy bảo vòm còn phải xem lại.

Bạch Dụng đang và cơm, tay trái cầm đũa, tay phải cầm bát. Nghe thế, hắn đặt bát xuống, nói như cáu.

– Ông Tảo dạo này lẩn thẩn. Đêm nào cũng đi lang thang trên núi. Tôi bảo rồi, già rồi thì đừng đi đêm, cầu thì trơn, suối thì sâu. Không nghe.

– Mày thấy ông ấy đi đêm à? – Thiết hỏi.

Dụng chớp mắt.

– Thì… người ta nói thế.

Kim Thọ ngồi cạnh Dụng, nãy giờ không nói gì. Ông cúi mặt vào bát cơm, nhưng Thiết thấy mắt ông liếc sang tay trái của Dụng, liếc nhanh rồi thôi.

Ông Tống Điếc chạm tay vào cánh tay Thiết. Ông nhúng ngón tay vào bát nước chè, vẽ lên mặt bàn gỗ. Một cái vòm cong. Rồi một người nhỏ xíu đứng dưới vòm. Rồi ông chỉ vào người nhỏ ấy, chỉ ra phía cửa, nơi cái thẻ ba gợn sóng đang treo, rồi chắp hai tay lại, cúi đầu.

– Ông ấy bảo ông Tảo là người thờ cái vòm – Lý Cốm giải thích. – Ông Tống nói thế từ hồi đào móng.

Nước chè trên mặt bàn khô dần, hình cái vòm nhạt đi rồi mất.

Gần giờ Thìn, khi các thợ cả đã đi hết, có một người khách khác bước vào lán. Ông ta chừng năm mươi, dáng cao gầy, râu ba chòm đã điểm bạc, mặc áo dài màu tro bằng vải thường, đầu đội khăn xếp. Nếu không có cái thẻ bài ngà đeo bên hông, chẳng ai nghĩ đó là một vị quan. Sau lưng ông là một người hầu đen trũi, vai u, ôm một cái hộp gỗ, mặt lầm lì.

Nghiên bỏ muôi, chạy ra, cúi đầu.

– Mẫn đại nhân.

– Cháu đừng làm thế. – Người đàn ông đỡ tay nàng, giọng trầm, chậm, như người quen đọc sách to. – Ta nghe tin ông Tảo. Ta đến muộn. Tư Cối.

Người hầu đặt cái hộp gỗ lên bàn, mở nắp. Trong ấy có hai xâu tiền, một gói hương trầm, một tấm vải trắng.

– Hai quan, cháu lo việc cho ông. Ta biết lăng có tiền đền, nhưng tiền lăng thì phải chờ giấy tờ. Việc người chết thì không chờ được.

Nghiên đứng sững một lúc, rồi quỳ xuống lạy. Người đàn ông vội đỡ nàng dậy, quay sang nhìn Thiết.

– Còn cậu đây, nếu ta đoán không nhầm, là con trai thợ cả Lương. Cậu giống cha ở hai bàn tay.

– Dạ. Ứng Văn Thiết, bổ đầu huyện.

– Mẫn Tư Hoằng, Thiếu giám Khâm thiên giám. – Ông chắp tay đáp lễ, không ra vẻ quan. – Bản vẽ huyền cung là ta vẽ, ngày lễ duyệt cung là ta chọn. Nói vậy cho cậu biết ta là ai, chứ chẳng có gì đáng kể. Không có chín người thợ cả thì bản vẽ của ta chỉ là tờ giấy.

Ông ngồi xuống ghế đẩu, rút trong tay áo ra một cây thước bằng ngà dài chừng hai gang, đã ngả màu vàng như mật. Ông gõ khẽ đầu thước vào hòn đá kê nồi bên cạnh. Một tiếng "cộc" khô. Ông nghiêng đầu nghe.

– Đá ong, kêu đục. – Ông mỉm cười. – Thói quen của ta, cậu đừng cười. Ba mươi năm nay ta đi đâu cũng gõ. Đá xanh ở mỏ tây núi này kêu trong như chuông, gõ vào là biết đá có rạn ngầm hay không. Ông Tảo không cần thước. Ông ấy áp tai vào đá là nghe được. Như thầy thuốc bắt mạch.

– Đại nhân biết ông Tảo lâu không?

– Bốn năm. Ta lên xuống núi này hai mươi bận. Lần nào cũng ăn cơm ở đây. Cơm cô Nghiên nấu ngon hơn cơm nhà khách của lăng. – Ông đứng dậy, cất thước. – Ta không làm phiền nữa. Cậu Ứng, nếu cậu cần gì về huyền cung, về chín người thợ cả, cứ lên nhà khách tìm ta. Bên Nội, bên bộ Công đều coi chuyện này là chuyện nhỏ, nhưng ta thì không. Một người như ông Tảo, cả nước chưa chắc có mười.

Ông bước ra cửa, rồi dừng lại trước vách thẻ tre, nhìn hồi lâu cái thẻ ba gợn sóng treo một mình ở hàng cọc tối. Người hầu tên Tư Cối đứng chờ sau lưng ông, mắt không nhìn thẻ, mà nhìn Thiết.

Giờ Thân hôm ấy, Tri huyện Nhữ xuống lại như đã hẹn. Ông ngồi ở điếm tuần đọc tờ khám nghiệm của ông Bàng hai lượt, đọc đi đọc lại cái dòng "sau gáy dập một mảng to bằng lòng bàn tay", rồi cầm bút, chấm mực, ngồi im một hồi.

– Ứng bổ đầu. Ngươi tìm thêm được gì?

Thiết nghĩ tới hai vệt mờ trên mặt cầu đã bị rửa sạch. Anh nghĩ tới chiếc dép đã biến mất.

– Bẩm quan, ông Tảo không uống rượu, cả bãi đều nói vậy. Tối hôm ấy ông không có ca. Ông dặn con gái là đi xem lại cái nêm, không nói nêm gì.

– Thế thôi?

– Dạ.

Tri huyện thở dài, rồi cúi xuống viết. Nét chữ chân của ông to, ngay ngắn, chậm. "Lư Đức Tảo, thợ cả lăng, chết ngày hai mươi lăm tháng Mười, xác dạt bờ đông suối Hàn Khê. Khám không có dấu chết đuối. Duyên cớ chưa rõ, còn xét." Ông đóng dấu huyện lên.

– Ta chỉ làm được đến thế. Còn xét thì xác không giao cho lăng. Nhưng người chết phải được khâm liệm. Cho gia đình đưa về lán làm lễ. Ba ngày.

Chiều tối, Mậu với hai người thợ khiêng ông Tảo về lán nhà họ Lư, cái lán nhỏ dựng sau lán cơm, hai gian, một gian cha ngủ, một gian hai chị em ngủ. Nghiên đã quét sạch gian của cha, rải chiếu mới, thắp đèn dầu lạc.

Khi người ta đã về hết, nàng đến gian ấy dọn cái giường tre để đặt cha nằm. Thiết đứng ngoài hiên, định chào rồi về, thì nghe nàng gọi.

– Ông bổ đầu. Ông vào đây.

Nàng quỳ bên giường. Cái giường làm bằng những thân tre lồ ô to cỡ cổ tay, ghép sát nhau. Nàng đã rút ra một thân tre ở mép trong, sát vách. Đầu thân tre ấy không có mấu, rỗng ruột. Từ trong lòng ống tre, nàng dốc ra lên mặt chiếu từng miếng gỗ nhỏ bằng ba ngón tay, gọt nhẵn, mặt nào cũng vát chéo.

– Cha tôi giấu cái gì quý thì giấu vào ống giường. Hồi mẹ tôi còn, mẹ tôi giấu tiền ở đây. – Nàng đếm. – Mười hai miếng.

Thiết ngồi xuống bên cạnh. Anh nhặt từng miếng lên, xoay xoay trong tay. Gỗ mít, thớ mịn, vàng như nghệ. Mỗi miếng vát một kiểu, có miếng hai mặt song song, có miếng như cái nêm, đầu to đầu nhỏ. Anh xếp chúng trên chiếu, miếng nọ tựa vào miếng kia, như hồi nhỏ ngồi xem cha xếp. Chỉ một lúc, dưới tay anh dựng lên một cái vòm nhỏ, cao chừng gang tay, cong như lưng con rùa.

Nhưng nó không đứng được. Ở chân vòm bên trái có một khoảng trống, vừa một miếng nữa. Thiếu miếng ấy, cả cái vòm cứ nghiêng dần, nghiêng dần về phía chỗ trống, rồi đổ sập xuống mặt chiếu thành một đống gỗ vụn.

Thiết nhìn đống gỗ.

– Miếng thiếu không nằm ở đỉnh vòm – anh nói, như nói với mình. – Ai làm vòm cũng biết, miếng quan trọng nhất là miếng khóa trên đỉnh. Đằng này miếng thiếu lại nằm ở chân.

– Thì sao?

– Thì tôi chưa biết.

Thằng Ốc thò đầu vào cửa gian, tay ôm một bó hương. Nó nhìn đống gỗ trên chiếu, rồi nhìn chị nó.

– Chị ơi. Em quên chưa nói. Chiều qua lúc chị ở điếm với anh bổ khoái, có hai người vào lán nhà mình. Họ lật hết chăn chiếu, lục cả cái rương của cha. Em nấp sau cái chạn, em không dám ra.

Nghiên quay phắt lại.

– Ai?

– Em không thấy mặt. – Thằng bé ngập ngừng. – Em chỉ thấy chân. Một người đi giày vải, có cái đai da đỏ thắt ngang lưng.

— Hết chương 3 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →