AI Truyện
Dấu cánh én trên đá huyền cung

🏯 Cổ đại & cung đấu

Rãnh nước của ông Kim Thọ

Dấu cánh én trên đá huyền cung · Chương 31/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 31: Rãnh nước của ông Kim Thọ

– Thằng Thọ cho nước chảy ra hang Rùa vì hang Rùa là chỗ thấp nhất sườn bắc – ông Lương nói. – Nước thì không biết đi lên dốc. Thằng Thọ không chọn. Nước chọn.

Sáng mười sáu tháng Chạp, trời âm u, mưa phùn lất phất như rắc bụi. Trong điếm tuần, ông Tống vẫn ngồi bên hình vẽ trên nền đất từ đêm qua. Ông đã vẽ thêm nhiều. Cái rãnh không phải một đường. Nó là hai đường. Một đường chính chạy từ dưới nền huyền cung, đi qua dưới chân vòm tây, rồi theo sườn núi ra hang Rùa. Một nhánh nhỏ hơn rẽ ra từ giữa đường, chạy ngược lên, đến một cái lỗ thông hơi ở trên vai núi.

– Thằng Thọ làm rãnh xong từ tháng Sáu – ông Lương nói tiếp, ngón tay lần theo nét than. – Rồi tháng Bảy, thằng Dụng với hai thằng phủ khác dọn vào hang Rùa đục đá. Thằng Thọ thì cứ mỗi lần trời mưa to lại lên hang Rùa xem nước chảy ra có thông không. Hồi tháng Chín nó lên, nó thấy.

Tôi thấy nó tận mắt, từ hồi tháng Chín. Kim Thọ đã nói thế, đêm mùng ba tháng Một, trong cái áo tơi trùm kín đầu, hơi thở nồng mùi rượu.

– Cái chốt của cha cắm xuống cái rãnh này – Thiết nói.

– Đuôi nó nằm trên đầu rãnh. – Ông Lương gật đầu. – Người nào nằm trong rãnh, ngay dưới chân vòm tây, ngửa mặt lên, là chạm được vào nó.

Ông không nói thêm. Ông không nói người nằm trong rãnh có thể làm gì với cái đuôi chốt ấy. Không ai trong điếm hỏi. Ai cũng đã thấy cái vòm gỗ của ông Tảo sụp xuống trên mặt chiếu, khi Nghiên rút miếng đất sét ra.

Ông Tòng ngồi ở góc, vuốt râu.

– Lão nghĩ mãi một chuyện. Người ta chọn giờ Thìn ngày mười bảy, khi Hoàng thượng đứng dưới vòm. Mà người nằm dưới rãnh thì không nhìn thấy gì ở trên. Làm sao biết lúc nào là lúc?

Thiết đã nghĩ câu ấy từ đêm qua. Anh nghĩ đến một cái thước ngà, ngả vàng như mật, gõ vào đá để nghe. Đá xanh mỏ tây kêu trong như chuông. Cái chốt của cha anh kêu căng như dây đàn lên quá tay. Tiếng gõ trên đá xanh thì đi rất xa trong lòng đá.

– Người đứng ở trên gõ – anh nói. – Người nằm ở dưới nghe.

Không ai nói gì nữa.

Gần trưa, có người gõ cửa điếm. Mậu mở ra, rồi lùi lại một bước.

Vạn Hữu Toàn đứng ở ngoài, trong mưa phùn. Hắn không mặc áo đỏ, không đeo đao. Một cái áo nâu cũ, một cái nón lá, như hôm ở Gò Mít. Mưa đọng thành từng hạt trên vai hắn.

Hắn không bước vào. Hắn đứng ở ngưỡng cửa, nhìn vào trong. Nhìn ông Tống đang ngồi bên hình vẽ, người mà hắn đã đuổi trên núi suốt một tháng. Nhìn ông Mười Rổ trên phản, cái chân nẹp tre mà chính lính hắn đã làm gãy. Nhìn ông Lương. Nhìn Nghiên.

Nghiên đứng dậy. Nàng đứng rất thẳng.

– Ông đến làm gì?

Vạn không trả lời nàng. Hắn quay sang Thiết.

– Lính ta bị đuổi xuống bãi. Thị vệ canh tường lăng, canh thần đạo, canh tiện đạo. Sườn bắc thì chỉ có một tốp tuần, sáu người, đi một vòng hết nửa canh giờ, đổi phiên vào giờ Tuất và giờ Tý. – Hắn nói một mạch, giọng đều như đọc sổ. – Ta biết lối từ bãi sang hang Rùa không qua chòi gác. Ta biết hang. Ta đã đứng ở cửa hang ấy bốn tháng.

– Đội trưởng muốn gì? – Thiết hỏi.

– Muốn đi với ngươi.

Ông Mười Rổ trên phản khẽ cựa mình. Ông Tòng ngừng vuốt râu.

– Vì sao? – Thiết hỏi.

Vạn nhìn xuống đất một lúc. Mưa nhỏ giọt từ vành nón hắn xuống ngưỡng cửa.

– Ta đi hơn hai tháng nay theo một cái lệnh. Lệnh ấy không phải của ai cả. – Hắn nói chậm. – Ta giết hai người. Ta còn sống. Mẹ ta còn sống. Ta không biết làm gì với cái thân này nữa. Ta chỉ biết đi xuống cái hang ấy là việc duy nhất ta làm được mà không phải xấu hổ.

Thiết không trả lời ngay. Anh quay sang nhìn Nghiên.

Nàng đứng đó, hai tay buông thõng hai bên. Nàng nhìn Vạn, người đã cùng hai người lính đẩy cha nàng qua lan can cầu Hàn Khê, đêm hai mươi lăm tháng Mười. Người đã cắt dây túi của cha nàng. Người cha nàng đã kêu cha ơi.

Thiết đã nghĩ nàng sẽ khóc, hoặc sẽ hét, hoặc sẽ cầm con dao thái rau trong chạn. Nàng không làm gì cả. Nàng chỉ nhìn.

– Ông đi – cuối cùng nàng nói. Giọng nàng phẳng, khàn, không lên không xuống, như hôm nàng đặt mẩu đá cánh én lên bàn điếm. – Ông đi. Ông sống mà về. Để còn ra công đường. Để còn quỳ ở đấy mà nói ông đã làm gì với cha tôi. Ông chết dưới cái rãnh ấy thì ông trốn nợ.

Vạn nhìn nàng. Hắn không cúi đầu. Hắn chỉ đứng đó, chịu cái nhìn ấy, như một hòn đá chịu nước.

– Ta về – hắn nói.

Chiều hôm ấy, họ chuẩn bị.

Ông Lương không đi được. Theo cáo thị của bộ Lễ, chín thợ cả phải tắm gội trai giới trước ba ngày, giờ Mão ngày mười bảy có thị vệ đến lán đón, dẫn vào huyền cung quỳ đợi giá. Thị vệ đã đến lán ông Lương từ hôm mười bốn, ghi tên, dặn dò. Nếu đến giờ Mão mà ông không có ở lán, thì cả núi sẽ đi tìm ông. Mà người ta tìm ông thì người ta sẽ tìm ra cả những người đi cùng ông.

– Tao đi lối cửa – ông nói. – Mày đi lối rãnh. Sáng mai cha con mình gặp nhau ở dưới ấy.

Ông ngồi xuống bên Thiết. Ông vẽ lại cái chốt lên nền đất, vẽ to, vẽ kỹ. Cái đầu chốt mà Thiết đã thấy ở chân vòm tây. Cái thân chốt cắm xuống dưới nền, dài gấp ba cái đầu. Cái đuôi chốt thò xuống trần cái rãnh.

– Dấu tao đục ở mặt khuất – ông nói. – Không phải mặt mày thấy ở trên nền. Mặt khuất là mặt nằm sát xuống dưới, quay về phía rãnh. Tao đục dấu ở đấy vì phòng lương đếm dấu ở mặt khuất. Mày nằm trong rãnh, ngửa mặt lên, sờ vào đuôi chốt, sẽ thấy cánh én. Cạnh cánh én có một chỗ sứt. Đấy là chỗ thằng Tảo gõ.

– Hôm ấy cha bảo không biết ông Tảo với tới mặt khuất bằng cách nào.

– Giờ thì biết. Thằng Tảo xuống rãnh mà gõ. – Ông Lương ngừng. – Nó biết có rãnh. Nó biết trước tao.

Thiết nhìn hình vẽ. Hai vết lõm tròn trong khe đá ong vàng ở cuối hang Rùa, cách nhau một gang, vừa khít với hai đầu gối anh. Bụi đá ong vàng ăn sâu vào hai gối quần lá tọa của ông Tảo. Ông đã quỳ ở đấy không chỉ để xem Dụng nhuộm đá.

Nghiên đi vào từ lán cơm, tay cầm một cái túi vải nhỏ. Nàng ngồi xuống trước mặt Thiết.

Nàng mở túi, dốc ra lòng bàn tay. Mẩu đá xanh mỏng, to bằng hai móng tay cái đặt cạnh nhau, một mặt vỡ sắc, một mặt phẳng, trên mặt phẳng có nửa nét cong như cánh chim.

– Anh mang theo – nàng nói. – Mang nó về chỗ của nó. Em giữ nó đủ lâu rồi.

Thiết cầm lấy mẩu đá. Nó ấm, vì đã nằm trong tay nàng.

Giờ Dậu, trời tối. Mưa tạnh. Mây tan dần, để lộ những mảng trời đen thẫm điểm sao. Ở phía đông, trên rặng đồi gốc rạ, một quầng sáng bạc đang loang dần. Trăng mười sáu sẽ lên sớm, chỉ sau mặt trời lặn một chút, và sẽ sáng suốt đêm.

Ba người đi. Thiết, Vạn, và Mậu. Mậu chỉ đi đến cửa hang, rồi ở lại canh, có gì thì chạy về báo. Vạn đi trước. Hắn đi không tiếng, chân trần, bước dài, biết từng gốc sim, từng tảng đá. Hắn dẫn họ men theo một lối trâu đi dưới chân sườn bắc, không phải lối tắt, cũng không phải đường phu, vòng qua cái chòi gác cũ đã bỏ trống từ hôm lăng binh bị đuổi xuống. Có một lúc họ phải nằm rạp trong bụi lau, nhìn sáu cái bóng thị vệ đi qua trên con đường mòn cách đó hai chục bước, giáo dựng thẳng, giáp kêu loảng xoảng. Trăng đã lên. Mặt giáp sáng lấp lóa.

Đến hang Rùa lúc giờ Tuất.

Cái phên tre che miệng hang đã được kéo kín. Không có ánh đèn. Không có người ngồi canh. Vạn áp tai vào phên một lúc, rồi gạt nó sang bên.

Bên trong tối om. Mùi nước vỏ cây chua chát vẫn còn, nhưng nhạt đi. Mậu thắp cái đèn dầu nhỏ bọc vải đen, để hở một khe. Ánh sáng vàng rọi lên ba cái chiếu cói trải giữa hốc đá. Hai cái chiếu trống, chăn đã cuốn đi. Hai cái chum sành ở góc trong đã cạn. Trên vách đá ong, hình ba gợn sóng khắc đi khắc lại vẫn còn, và những hàng vạch than. Mười một. Ba. Năm. Hai. Hai vạch cuối đã bị gạch chéo.

Trên cái chiếu thứ ba có một người.

Người ấy nằm co quắp, quay mặt vào vách. Một sợi xích sắt nhỏ quấn quanh cổ chân, đầu kia cắm vào một cái cọc gỗ đóng sâu xuống nền. Nghe tiếng động, người ấy giật mình, quay lại, giơ tay lên che mặt khỏi ánh đèn.

Gầy như que củi. Mặt dài, râu ria lởm chởm, hai má hóp lại. Bàn tay trái che mặt.

– Chú Dụng – Thiết nói.

Bạch Văn Dụng hạ tay xuống. Hắn nhìn Thiết. Rồi nhìn Vạn đang đứng sau lưng Thiết. Hắn co rúm người lại, lùi vào vách.

– Không – Thiết nói nhanh. – Không phải. Đội trưởng đi với cháu.

Vạn bước tới. Hắn quỳ xuống bên cái cọc gỗ, nắm lấy nó bằng hai tay, nghiến răng nhổ lên. Cái cọc bật ra khỏi nền đất kèm theo một tảng đất nện. Hắn tháo sợi xích ra khỏi cổ chân Dụng, nhẹ tay như tháo dây cho một con chó con.

Dụng nhìn hắn, không hiểu gì.

Mậu đưa cho Dụng ống bương nước. Dụng uống ừng ực, uống đến sặc, rồi lau miệng bằng mu bàn tay trái.

– Hai thằng kia đi rồi – hắn nói, giọng như tiếng giấy rách. – Đi từ hôm mười ba. Thằng đen trả tiền cho chúng nó, bảo về quê. Còn tôi thì nó xích lại. Nó bảo tôi đục xong hai phiến cuối thì nó cho tôi đi. Tôi đục xong từ hôm mười. Nó không cho tôi đi.

– Thằng đen đâu?

Dụng chỉ ra phía cuối hốc. Phía sau cái bệ đá, nơi có cái khe đá ong hẹp chạy ngược lên.

– Vào trong ấy từ chập tối. Mang đèn, mang cơm, mang nước. Mang cả cái chăn. – Dụng nuốt khan. – Nó bảo tôi: đêm nay tao ở trong ấy. Mai xong việc tao ra, tao thả mày.

Thiết cầm đèn đi ra cuối hốc, đến cái khe đá ong. Hai vết lõm tròn trên nền bụi vàng vẫn còn đó, nhạt đi, nhưng vẫn còn. Anh quỳ xuống, đặt hai đầu gối vào hai vết lõm ấy, như hôm mùng sáu tháng Một.

Rồi anh nhìn về phía trước, không phải về phía cái bệ đá như lần trước, mà nhìn sâu vào trong lòng khe.

Ở cuối khe, sát chân vách, có một phiến đá lát vuông vức đã bị nhấc lên, dựng nghiêng vào vách. Dưới chỗ phiến đá ấy là một cái miệng tối đen, vuông, rộng vừa một người gầy lọt. Thành miệng lát đá xanh. Trên viên đá ở góc, có khắc một dấu nhỏ.

Hạt thóc.

Từ cái miệng đen ấy, một luồng hơi lạnh thở ra, chậm, đều, ẩm và có mùi đá ướt. Như hơi thở của một người nằm ngủ rất sâu dưới lòng núi.

— Hết chương 31 —

Mục lục Dấu cánh én trên đá huyền cung

  1. 1Ba bước ngoài cột mốc12 phút
  2. 2Không bọt nơi mũi miệng11 phút đọc
  3. 3Một trăm bốn mươi cái thẻ tre12 phút đọc
  4. 4Vò mật pha nước giếng10 phút đọc
  5. 5Người không đọc chữ thảo11 phút đọc
  6. 6Bụi vàng trên đầu gối10 phút đọc
  7. 7Năm phiến của người chết10 phút đọc
  8. 8Tiếng đục lúc canh ba10 phút đọc
  9. 9Cánh én10 phút đọc
  10. 10Lời nhận tội điểm chỉ ngón cái10 phút đọc
  11. 11Lò vôi số ba10 phút đọc
  12. 12Người điếc không nghe tiếng gọi10 phút đọc
  13. 13Gánh cơm vào hang Rùa10 phút đọc
  14. 14Người thuận tay trái10 phút đọc
  15. 15Lệnh bài đỏ11 phút đọc
  16. 16Người đứng cầm đèn11 phút đọc
  17. 17Phiên xét ở nhà Giám lăng11 phút đọc
  18. 18Ống tre vàng11 phút đọc
  19. 19Chín trừ hai12 phút đọc
  20. 20Đường muối qua đèo Dốc Gió11 phút đọc
  21. 21Cửa đá tự khoá11 phút đọc
  22. 22Miếng đất sét ở chân vòm10 phút đọc
  23. 23Đêm qua đèo11 phút đọc
  24. 24Mẹ của Vạn11 phút đọc
  25. 25Thị lang bỏ trốn10 phút đọc
  26. 26Thước ngà11 phút đọc
  27. 27Thượng bảo ty10 phút đọc
  28. 28Nét móc đuôi én10 phút đọc
  29. 29Phong ấn ngày lành11 phút đọc
  30. 30Hành cung dưới chân núi10 phút đọc
  31. 31Rãnh nước của ông Kim Thọ11 phút đọc
  32. 32Đêm mười sáu tháng Chạp12 phút đọc
  33. 33Giờ Thìn10 phút đọc
  34. 34Nửa vòm phía cửa10 phút đọc
  35. 35Ngày giỗ họ Diêm11 phút đọc
  36. 36Hai nét cánh én10 phút đọc

Về truyện này

Dấu cánh én trên đá huyền cung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →