Chương 18: Ống tre vàng
Trăng mùng mười đã lên cao trên đỉnh Bàn Long, sáng đến mức hai hàng tượng đá trên thần đạo đổ bóng xuống mặt đường như những người thật đang đứng chờ.
Tên tiểu thái giám dẫn Thiết đi qua sân chầu, qua cái cửa vòm đá dẫn xuống tiện đạo mà bốn người lính vẫn đứng gác dưới ánh trăng, đến nhà Giám lăng. Hắn không dẫn anh vào gian giữa. Hắn dẫn anh vòng ra sau, theo một hành lang hẹp, đến một cánh cửa gỗ nhỏ. Hắn gõ ba tiếng, rồi mở cửa, cúi đầu đứng sang một bên.
Gian trong nhỏ, chỉ đủ kê một cái giường gỗ, một cái bàn, và một cái khám thờ đặt sát vách. Trên khám không có bài vị, không có tượng. Chỉ có một ngọn đèn dầu và một cái ống tre.
Cái ống tre dài chừng hai gang, to bằng cổ tay, sơn vàng óng, hai đầu bịt đồng, buộc một sợi dây lụa vàng thắt nút hình hoa sen. Thiết chưa từng thấy cái ống nào như thế. Nhưng anh đã nghe kể. Ở huyện, ở phủ, người ta chỉ cần nhắc đến hai chữ "ống vàng" là đủ hạ giọng. Thứ đựng trong ống vàng không phải công văn của bộ, của phủ. Nó là lời của người ngồi trên tất cả bộ, tất cả phủ.
Phùng công công ngồi trên mép giường. Ông đã thay áo bào, chỉ mặc một cái áo lót trắng, khoác ngoài một cái áo bông cũ. Trông ông già hơn, nhỏ hơn lúc ban sáng ngồi trên bục. Tràng hạt vẫn quấn ở cổ tay.
– Ngồi đi.
Thiết ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh bàn. Tên tiểu thái giám khép cửa lại từ bên ngoài. Anh nghe tiếng chân hắn đi xa dần trên hành lang.
– Ban sáng ngươi giữ lại một tờ không trình – Phùng công công nói.
Thiết không trả lời.
– Ta thấy ngươi đặt tay lên ngực áo ba lần. Lần đầu lúc ngỗ tác nói chuyện sau gáy. Lần hai lúc con bé họ Lư nói câu cuối. Lần ba lúc ta nói người của ta, ta xét. – Ông nói chậm, không có vẻ gì là đắc thắng. – Ngươi có người thấy đêm ấy. Ngươi không trình vì ngươi biết ta đứng ở đâu.
Ngọn đèn dầu trên khám lắc lư một chút. Ngoài cửa sổ, ánh trăng trải trắng trên mái ngói.
– Ta không hỏi người ấy là ai – ông nói tiếp. – Ta không cần biết. Ngươi giữ được người ấy đến giờ là giỏi. Giữ tiếp đi.
– Công công đứng ở đầu cầu – Thiết nói. Giọng anh chậm lại, như mỗi lần anh giận. – Công công cầm đèn.
– Ừm.
– Công công nói với thuộc hạ là công công không thích thêm người chết.
– Ta không thích. – Phùng công công nhìn ngọn đèn. – Ta chưa bao giờ nói là ta không làm.
Ông đứng dậy, đi đến bên khám thờ. Ông chắp tay vái cái ống tre ba vái, rồi cầm nó lên bằng hai tay, như người ta bưng một bát nước đầy. Ông tháo nút dây lụa, mở nắp đồng, rút ra một cuộn giấy vàng.
– Ta gọi ngươi lên để ngươi đọc cái này.
– Thuộc hạ không dám.
– Ngươi đọc. – Ông đặt cuộn giấy lên bàn trước mặt Thiết. – Ta đã nghe nó một lần. Từ miệng người khác. Ta muốn nghe thêm một lần nữa, từ miệng một người không phải người đã đọc cho ta lần trước.
Thiết nhìn cuộn giấy. Anh nhìn rất lâu. Rồi anh lau hai bàn tay vào vạt áo, mở nó ra.
Giấy vàng, dày, mịn, loại giấy anh chưa từng sờ vào. Chữ thảo, mực đen, viết đều tay, nét bay mà không loạn. Cuối tờ là một con dấu son vuông vức, chữ triện uốn lượn, đỏ như máu gà.
Anh đọc to. Giọng anh vang lên trong gian phòng nhỏ, nghe lạ như giọng người khác.
– "Dụ Giám lăng Phùng Thuận. Huyền cung Khánh lăng đã thành. Chín thợ cả dựng huyền cung biết đường trong cung, biết then cửa đá, biết chỗ đặt quan quách. Xưa nay lăng tẩm phải kín, đường vào không được lọt ra ngoài. Giao khanh tùy nghi xử trí trước ngày duyệt cung, chớ để kinh động dân, chớ để người ngoài hay biết. Việc này chỉ khanh biết. Đọc xong thì giữ, không được chép lại. Thiệu Khang năm thứ ba mươi mốt, tháng Chín, ngày mồng chín."
Anh đọc xong, nhưng mắt vẫn dán vào tờ giấy. Anh đọc lại một lần nữa trong đầu, không ra tiếng. Rồi một lần nữa.
Chín thợ cả. Tùy nghi xử trí. Trước ngày duyệt cung.
Đời trước, xây lăng xong, người ta gọi thợ cả xuống huyền cung làm lễ tạ đất. Rồi người ta đóng cửa đá lại. Từ bên ngoài.
Triều ta nhân từ, Mẫn đại nhân đã nói thế, trên thần đạo, cười xua tay. Chuyện ma để dọa trẻ con thôi.
– Ừm. – Phùng công công ngồi xuống mép giường. – Đúng như ta nghe lần trước. Không sai chữ nào.
Thiết ngẩng lên.
– Cái này đến tay công công lúc nào?
– Ngày hai mươi tám tháng Chín. Ngựa trạm từ kinh, niêm nguyên, dấu niêm còn nguyên vẹn. – Ông lần một hạt tràng. – Ta hầu Hoàng thượng năm mươi hai năm, bổ đầu Ứng ạ. Từ năm ta sáu tuổi, Hoàng thượng mười một tuổi. Ta bưng nước rửa mặt cho người, ta thức đêm khi người ốm, ta đứng chắn trước cửa điện năm tranh ngôi. Hoàng thượng chưa bao giờ sai ta làm một việc như thế này. Lần này người sai. Người hầu không hỏi.
– Ông Tảo…
– Ông Tảo là người đầu tiên vì ông ấy đã biết quá nhiều. – Phùng công công nói, giọng vẫn đều, nhưng tràng hạt trong tay ông ngừng lại. – Vạn báo ông ấy đi xuống chân vòm tây gõ từng phiến đá, rồi lên sườn bắc lục lọi gì đấy, rồi sang lán cha ngươi cãi nhau. Ta nghĩ ông ấy sắp nói ra ngoài cái gì đó về đường trong cung. Ta bảo Vạn làm. Ta đứng xem. Ta đã hứa với mình là ta phải đứng xem từng người một. Không được ngồi trong nhà mà sai.
– Ông Thọ.
– Ông Thọ muốn nói với ngươi.
– Còn cha thuộc hạ?
Phùng công công nhìn Thiết. Ánh đèn hắt lên mặt ông, những nếp nhăn mảnh ở khóe mắt sâu như những vết dao.
– Cha ngươi ta tha hôm nay vì ta cần đôi tay ông ấy làm xong cái cửa đá. Cửa đá hai cánh, có đá lăn tự khóa, cả nước không có người thứ hai làm được. Hạn mùng năm tháng Chạp. Xong cửa thì ta không tha được nữa. – Ông ngừng lại. – Ta bắt ông ấy vì Vạn bắt. Vạn bắt vì ngươi đào. Ta cũng định để thế, nhận tội rồi thì đến lúc ấy chém, cho gọn. Nhưng ban sáng con bé họ Lư nói câu ấy. Không muốn người giết cha nó được ngủ yên trong khi người khác chịu chém thay. – Ông lần lại tràng hạt. – Ta là người giết cha nó. Ta không ngủ yên được thêm nữa.
Thiết ngồi im. Anh không biết mình nên ghét người đàn ông trước mặt hay nên thương. Anh chỉ biết hai bàn tay mình đang nắm chặt hai mép tờ mật chỉ, chặt đến mức giấy nhăn lại.
– Công công đưa thuộc hạ xem làm gì?
– Để ngươi thôi đào. – Phùng công công nói. – Ngươi đào nữa thì ngươi đào vào cái này. Mật chỉ không có tên ngươi. Nhưng mật chỉ bảo ta không để người ngoài hay biết. Ngươi vừa đọc nó. Ngươi biết rồi.
Thiết nhìn ông.
– Công công định giết cả thuộc hạ?
– Ta chưa định gì cả. – Ông già thở ra một hơi dài. – Ta cho ngươi xem vì ta muốn có một người biết. Một người không phải ta, không phải Vạn, không phải người đã đọc cho ta. Ta già rồi, bổ đầu Ứng. Ta muốn có một người biết là ta không làm việc này vì ta thích.
Ông đứng dậy, cầm lấy cuộn giấy vàng trong tay Thiết, cuộn lại, cho vào ống tre, đậy nắp đồng, buộc dây lụa thắt nút hoa sen. Ông đặt nó lên khám, vái ba vái.
– Muốn cha ngươi sống – ông nói, lưng vẫn quay về phía Thiết – thì đưa ông ấy đi khỏi cõi này trước mùng năm tháng Chạp. Đi thật xa. Và đừng để ta biết. Ta mà biết, ta phải đuổi theo. Ta không có cách nào khác.
– Còn sáu người kia?
Phùng công công không trả lời.
Thiết đứng dậy. Đến cửa, anh dừng lại.
– Công công. Công công đọc được chữ thảo không?
– Ngươi biết rồi còn hỏi.
– Thế lần trước ai đọc cho công công?
Ông già quay lại. Ông nhìn Thiết hồi lâu.
– Có người đọc cho ta. Người ấy cũng thề giữ kín như ta. Ta không nói.
– Thêm một câu nữa thôi, thưa công công. – Thiết nắm lấy khung cửa. – Mười một phiến nêm đá vôi trong chân vòm tây. Việc ấy cũng là ý trong mật chỉ sao?
Lần này Phùng công công không trả lời ngay. Ông đứng im, tay vẫn đặt trên mép khám. Trên khuôn mặt nhẵn thín của ông, lần đầu tiên Thiết thấy một thứ giống như bối rối.
– Đá vôi – ông lặp lại. – Ban sáng Mẫn đại nhân nói đá vôi. Ta tưởng là chuyện bộ Công ăn bớt, như chuyện mật.
– Công công không biết?
– Mật chỉ nói về người. Không nói về đá. – Ông chậm rãi ngồi xuống mép giường. – Việc đá là việc khác. Ta sẽ hỏi Vạn.
Thiết đi ra.
Tên tiểu thái giám đứng chờ ở cuối hành lang, cầm đèn lồng, dẫn anh ra cổng phụ. Đến cổng, hắn cúi đầu chào rồi quay vào. Thiết đi xuống con đường dốc một mình.
Trăng đã ngả về tây, nhưng vẫn còn sáng vằng vặc. Đất đá, cỏ cây, những mái lán thợ dưới bãi Cỏ Gấu, tất cả đều phủ một lớp bạc lạnh. Gió nồm đã tắt, gió bắc lại thổi xuống từ đỉnh núi. Anh đi chậm, mỗi bước như phải nhấc một hòn đá.
Anh đã nghĩ là anh đang đi tìm một kẻ giết người. Một Thị lang ăn bớt mật. Một đội trưởng lăng binh hung dữ. Một thợ cả thuận tay trái tham bạc. Kẻ giết người là một con người, có tên, có mặt, có thể bắt, có thể giải lên công đường. Anh có luật. Anh luôn có luật để đứng lên, như Tri huyện Nhữ đứng lên trước mười người lính ở dốc Lò Vôi.
Nhưng kẻ giết ông Tảo không phải Vạn, không phải Phùng công công. Vạn đẩy. Phùng cầm đèn. Còn người ra lệnh thì ngồi trong cung, cách đây ba ngày ngựa, và tên của người ấy được viết ở đầu mọi bộ luật mà anh từng dựa vào.
Anh dừng lại giữa dốc, nhìn xuống bãi Cỏ Gấu. Dãy chín cái lán thợ cả ở mép trên bãi. Một cái đã cháy thành tro. Một cái của ông Tảo, ông ít ngủ ở đấy, cửa cài then từ hôm đám. Một cái của ông Thọ, bỏ trống. Một cái của Dụng, bỏ trống. Một cái của cha anh, đèn dầu còn sáng.
Anh nghĩ tới tờ giấy vàng. Tới những dòng chữ thảo đều tay, nét bay mà không loạn. Có một cái gì đó trong những dòng chữ ấy cứ lởn vởn trong đầu anh như một hạt sạn trong bát cơm. Một nét chữ. Anh không nhớ nét nào. Anh chỉ nhớ là khi đọc tới hai chữ "huyền cung", mắt anh đã dừng lại một nhịp, như vấp phải một cái gì quen.
Anh lắc đầu. Anh mệt quá. Anh không nghĩ ra.
Anh nhìn lại xuống dãy lán. Chín cái lán. Chín người dựng huyền cung. Mày đếm đi, cha anh đã nói thế, trong gian kho, hai chân xỏ trong cùm. Đếm thì biết.
Cha anh đã biết. Từ lâu rồi.
Thiết đếm. Lư Đức Tảo, Kim Thọ, đã nằm ở bãi tha ma thợ. Còn lại bảy người. Một người đang ngồi bên ngọn đèn dầu ở cái lán cuối dãy, cạnh gốc sau sau, mài đục cho cái cửa đá phải xong trước mùng năm tháng Chạp.
Ngày ấy còn hai mươi lăm hôm nữa.
— Hết chương 18 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe