AI Truyện
Con quay năm màu

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Điểm danh canh hai

Con quay năm màu · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Điểm danh canh hai

– Đàm Cốc, dãy Hai, giường mười bốn.

– Có.

Người điểm danh là một đệ tử ngoại môn mặt non choẹt, cầm cuốn sổ và một ngọn đèn lồng. Cậu ta giơ đèn soi vào mặt Cốc một cái, gạch một nét bút, rồi đi tiếp. Tiếng mõ canh hai từ Đại điện vọng xuống, hai tiếng chậm. Đêm mồng một tháng Ba, Cốc nằm trên tấm phản gỗ lim, mắt mở trừng trừng nhìn lên mái ngói, và nghe cái ấm dịu dàng quen thuộc bắt đầu lan lên từ dưới lưng mình.

Sáng hôm sau, cậu leo lên Đỉnh Gió từ lúc gà gáy. Chín trăm bậc trong bóng tối, cậu leo bằng tay nhiều hơn bằng chân. Tới nơi thì trời vừa hửng.

Cậu ngồi dưới gốc chè, bẻ chồi non, quay mặt về hướng đông. Giọt xanh vẫn tới. Nhưng cái vũng dưới rốn cậu, cái vũng đã đầy lên trong suốt một tháng qua, đã vơi đi một ngấn. Như mực nước ao sau một đêm có người tát trộm.

Bà Yên đứng ở cửa nhà gỗ nhìn cậu. Cậu kể chuyện tấm bảng gỗ. Bà nghe, không nói gì, rồi đi lấy chén trà.

– Sư phụ bảo con ngủ trên này. Giờ con không ngủ trên này được nữa.

– Tao biết.

– Con xuống núi thì u con không có tiền thuốc.

– Tao biết. – Bà Yên uống một ngụm trà. Bà nhìn cậu qua miệng chén. – Ngủ dưới ấy thì đừng ngủ say. Nằm mà thức. Thức được bao lâu thì thức.

– Vì sao ạ?

Bà không trả lời. Bà quay vào nhà.

Cốc thử. Đêm mồng hai, sau tiếng điểm danh, cậu nằm thẳng, mắt mở, đếm tiếng ếch, đếm tiếng ho, đếm tiếng Bổng ngáy. Cái ấm dưới lưng kéo mí mắt cậu xuống, chậm và nặng như bùn. Cậu cắn môi. Cậu ngồi dậy. Cậu đi ra hiên rửa mặt bằng nước giếng lạnh. Rồi cậu nằm xuống lại, và tới canh tư thì cậu thiếp đi lúc nào không biết.

Sáng mồng ba, vũng khí vơi thêm một ngấn.

Mười ngày như thế. Đêm nào cậu cũng chống lại, đêm nào cũng thua vào một lúc nào đó sau nửa đêm. Sáng nào cậu cũng leo lên đài, ngồi dưới gốc chè, gọi giọt xanh về bù vào chỗ đã mất. Bù được một ít. Không bù đủ. Như người tát nước vào một cái ao bị thủng đáy.

Sáng mười một tháng Ba, bà Yên đặt lên tay cậu chiếc lá khô. Lá dựng lên. Lá nhấc lên khỏi lòng bàn tay chừng nửa tấc, chao một cái, rồi rơi.

– Sát mép tầng một. – Bà nói. – Mười ngày mất nửa tháng.

Cốc nhìn chiếc lá rơi. Cậu thấy mặt mình nóng lên, không phải vì xấu hổ, mà vì một thứ gì đó giống như tức giận nhưng không biết tức ai.

– Sư phụ biết vì sao. Sư phụ biết mà không nói.

Bà Yên không đáp.

– Ở dưới ấy có cái gì? – Cậu hỏi. – Vì sao ngủ trên này thì khí đầy, ngủ dưới ấy thì khí vơi? Vì sao con bé Ớt khí trôi xuống chân? Vì sao Mận ho, chú Ba Trấu ho, cả dãy ho?

– Mày hỏi nhiều quá.

– Con không được hỏi thằng trước là ai. Sư phụ đâu cấm con hỏi cái này.

Bà Yên nhìn cậu. Lần đầu tiên Cốc thấy bà không có câu gì sẵn để bắt bẻ. Bà nhìn xuống thước đá, rồi nhìn cây cột đồng, rồi nhìn về phía đông, về phía những tầng ruộng.

– Tao không biết chắc. – Bà nói, rất chậm. – Và cái tao không biết chắc thì tao không nói.

Cốc đứng dậy.

– Thế thì con tự đi tìm.

Chiều hôm ấy, cậu bắt đầu từ con quay.

Lúc cả dãy nhà Lúa còn ở ngoài ruộng, cậu xin về sớm với cớ đau bụng. Dãy Hai vắng tanh, chỉ có nắng chiều xiên qua cửa sổ thành những vệt dài trên sàn. Cậu quấn dây, đứng ở đầu dãy, sát cửa ra vào, giật. Con quay chạy, rồi đi, rồi trượt về phía cây cột cái, rồi đổ nghiêng, mũi đinh chĩa về phía cuối dãy.

Cậu lấy một mẩu than đánh dấu chỗ nó đổ.

Rồi cậu quay ở góc bên trái, cạnh giường số một. Ở góc bên phải, cạnh giường số hai mươi. Ở giữa lối đi. Sát tấm phên ngăn. Dưới gầm giường mười bốn. Trên bậc cửa sau. Mười chỗ. Lần nào con quay cũng trôi về phía cây cột cái. Lần nào cũng đổ ở cách chân cột chừng một gang tay. Lần nào mũi đinh cũng chĩa về một hướng: chéo về phía cuối dãy, phía con dốc, phía dưới chân núi.

Mười dấu than trên sàn gỗ lim, nối lại, thành một hình như cái nan quạt, cán quạt là cây cột cái.

Tối, Cốc kể cho Bổng nghe. Không kể hết. Cậu không kể chuyện gốc chè, chuyện giọt xanh, chuyện bà Yên. Cậu chỉ kể chuyện con quay. Bổng nghe, gãi đầu, rồi bảo:

– Thì sàn lệch.

– Sàn lệch thì nó lăn xuống chỗ thấp. Mày đặt bát nước lên sàn xem.

Bổng đặt một bát nước lên sàn, giữa lối đi. Mặt nước phẳng lì, không nghiêng về bên nào.

– Ờ. – Bổng nói. Rồi nó nghĩ một lúc lâu, cái kiểu nghĩ chậm và chắc của nó. – Thế mai tao mang tro bếp lên. Tro mịn, nhẹ. Có gió là nó bay theo gió. Không có gió mà nó vẫn bay thì là có cái gì đó.

Trưa hôm sau, mười hai tháng Ba, Bổng mang lên một túi vải đựng tro rơm mịn như bột, rây qua cái rây bột bánh của Bếp Lớn. Hai đứa đóng hết cửa sổ, cửa chính, chèn giẻ vào khe. Bổng rắc tro thành một lớp mỏng như sương lên mặt sàn quanh cây cột cái, rộng chừng một chiếu.

Chúng ngồi xổm, chờ.

Một lúc không có gì. Rồi tro bắt đầu dạt. Không phải bay lên. Dạt, như cát ở mép nước khi sóng rút. Những hạt tro mịn trượt chậm trên mặt gỗ, gom lại thành những vệt mảnh, cong, chạy từ mọi phía về phía chân cột, rồi từ chân cột chạy tiếp, thẳng một đường, về phía cuối dãy.

Bổng há miệng. Nó nhìn Cốc, rồi nhìn những vệt tro, rồi lại nhìn Cốc.

– Cái gì thế này?

– Tao không biết.

– Mày có biết là mày hay nói "tao không biết" lắm không?

Cốc cười, lần đầu tiên trong mười ngày.

Đêm ấy, hai đứa quyết định cạy ván.

Cần một người canh cửa. Cốc nghĩ tới Mận. Cậu nghĩ khá lâu. Mận lanh, Mận biết giờ giấc của người gác đêm, Mận ngủ ở dãy này, đi lại không ai để ý. Nhưng Mận cũng là đứa cứ nhìn cậu bằng con mắt nheo nheo, là đứa có cái túi tiền kêu xủng xoẻng, là đứa đã hỏi cậu ông già bán hạt nói gì.

Cuối cùng cậu vẫn hỏi Mận. Vì không còn ai khác, và vì Mận là bạn.

Mận nghe xong, không hỏi cạy ván để làm gì. Nó chỉ hỏi:

– Lúc nào?

– Sau canh ba.

– Người điểm danh đi tuần lại một lần lúc canh ba, đi từ dãy Một sang dãy Ba, không vào dãy Hai, vì dãy Hai gần cửa nhất. – Mận nói, như đọc thuộc lòng. – Còn bác Hiền thì đi đêm không có giờ. Có đêm bác đi, có đêm không. Thấy đèn lồng thì tớ ho hai tiếng.

Canh ba. Mõ Đại điện điểm ba tiếng xa xa. Dãy Hai im lặng, chỉ còn tiếng thở đều của hai mươi người ngủ và tiếng ho thỉnh thoảng của chú Ba Trấu ở cuối dãy. Mận ngồi trên bậc cửa, ôm gối, tóc xõa, như một đứa mất ngủ ra hóng gió.

Cốc và Bổng bò tới chân cây cột cái.

Tấm ván lim ở sát chân cột, phía có vệt tro chạy ra, có hai cái đinh sắt đã rỉ lỏng. Bổng mang theo một con dao phay mỏng của Bếp Lớn. Nó lách lưỡi dao vào khe ván, nạy nhẹ. Ván lim nặng, cứng, kêu kẽo kẹt một tiếng. Cả hai đứa nín thở. Ở giường số chín, có đứa trở mình, lầm bầm, rồi ngủ tiếp.

Bổng nạy thêm. Tấm ván nhấc lên được chừng một gang. Cốc thò tay vào, đỡ lấy, nhấc hẳn lên, dựng nghiêng vào chân cột.

Bên dưới là đá nền.

Một tấm đá xanh lát phẳng, mát lạnh, phủ một lớp bụi mỏng. Và trên mặt đá ấy, chạy ngoằn ngoèo như rễ cây, như những con lạch nhỏ trên bãi bồi lúc nước ròng, là những đường khắc. Mảnh như sợi chỉ. Sâu chừng một đốt móng tay. Chúng chạy từ phía dưới các giường tới, gom về đây, bện vào nhau dưới chân cột cái thành một nút thắt rối. Từ nút ấy chúng tách ra thành một đường duy nhất, to hơn, chạy thẳng về phía cuối dãy, chui xuống dưới những tấm ván kế tiếp.

Và chúng sáng.

Không sáng như đèn. Sáng mờ mờ, xanh lợt, chập chờn, như ánh đom đóm lặn dưới bùn. Mỗi lần ánh sáng ấy chập chờn, những đường khắc như có cái gì đó chảy qua, từ phía các giường về phía nút thắt, từ nút thắt về phía cuối dãy, về phía con dốc.

Cốc nhìn những đường sáng ấy, và cậu nhớ ra cha.

Cha từng kể, những đêm ở lại canh ruộng cho tông môn, cha ra bờ và thấy dưới mặt nước ruộng tầng một có ánh sáng xanh lờ mờ, như có đom đóm lặn dưới bùn. Cha bảo lúa tiên thì có khác.

Bổng thì thầm, giọng run:

– Cốc. Cái gì thế?

Cốc không trả lời. Cậu đặt bàn tay lên mặt đá, ngay cạnh một đường khắc đang sáng. Khí xanh trong người cậu, cái lưỡi nếm được khí mà cậu đã nói với bà Yên, chạm vào đó.

Lạnh. Như hơi bùn lúc chiều. Trôi đi. Chảy xuống. Như nước ruộng bị tháo ở dưới.

Giống hệt cái lạnh trong lưng con bé Ớt sáng Xuân phân.

Và giờ cậu nhớ ra mình đã gặp cái lạnh ấy ở đâu trước cả con bé Ớt. Những buổi sáng thức dậy trên giường mười bốn, chỗ dưới rốn trống không như cái nồi đã cạo sạch cơm cháy. Ban đêm thì ấm, sáng ra thì lạnh. Cái ấm là lúc có thứ gì đó đang uống. Cái lạnh là chỗ nó đã uống xong.

Cậu rụt tay lại. Cậu lục trong túi áo ra tờ giấy bản và thỏi than đã chuẩn bị từ chiều. Cậu trải giấy lên mặt đá, ngay chỗ nút thắt, lấy than xoa đều lên giấy như người ta thác bản khắc trên bia đá ở đình làng. Những đường khắc nổi lên trên giấy thành những nét trắng giữa nền đen. Cậu xoa nhanh, tay run, than gãy làm đôi.

Ở bậc cửa, Mận ho.

Hai tiếng. Khẽ, khô.

Bổng đông cứng. Cốc ngẩng lên. Qua khe cửa ra vào hé mở, phía bên kia sân, một quầng sáng vàng tròn đang lắc lư tiến lại, đều đều, chậm, theo nhịp của một đôi guốc gỗ trên lối đá.

Và theo cùng ánh sáng ấy, mỗi lúc một gần, là một tiếng ngân nga khe khẽ, ấm áp, không thành lời, như tiếng người ta ru cháu.

— Hết chương 8 —

Mục lục Con quay năm màu

  1. 1Đá xám9 phút
  2. 2Dãy nhà Lúa10 phút đọc
  3. 3Bóng nắng trưa11 phút đọc
  4. 4Hướng đông lúc rạng sáng10 phút đọc
  5. 5Lễ cấy ở tầng bảy10 phút đọc
  6. 6Năm hành không cãi nhau10 phút đọc
  7. 7Chợ phiên Gò Mạ10 phút đọc
  8. 8Điểm danh canh hai10 phút đọc
  9. 9Trận dưới sàn10 phút đọc
  10. 10Chiếu đất10 phút đọc
  11. 11Lịch Đài thí10 phút đọc
  12. 12Ngày giao mùa11 phút đọc
  13. 13Chú Ba Trấu11 phút đọc
  14. 14Lửa trên tầng bảy10 phút đọc
  15. 15Thư nhà10 phút đọc
  16. 16Lửa dưới ván sàn10 phút đọc
  17. 17Cái tủ gỗ ở Chấp Pháp đường10 phút đọc
  18. 18Đêm Hạ chí ở Hang Mạ12 phút đọc
  19. 19Dấu ở chân cột đồng12 phút đọc
  20. 20Mùa không chờ10 phút đọc
  21. 21Chiếu đất thứ mười hai10 phút đọc
  22. 22Người kể chuyện cho bác Hiền10 phút đọc
  23. 23Lập Thu12 phút đọc
  24. 24Trưởng lão xuống núi10 phút đọc
  25. 25Gió heo may10 phút đọc
  26. 26Ấn của chưởng môn10 phút đọc
  27. 27Gặt vụ mùa10 phút đọc
  28. 28Thổ cuối thu10 phút đọc
  29. 29Vô Niên10 phút đọc
  30. 30Thầy và trò cũ10 phút đọc
  31. 31Bốn mươi chín ngày10 phút đọc
  32. 32Đông chí10 phút đọc
  33. 33Tháng Chạp10 phút đọc
  34. 34Giao thừa11 phút đọc
  35. 35Con quay giữa trận giả10 phút đọc
  36. 36Lập Xuân10 phút đọc

Về truyện này

Con quay năm màu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →