Chương 27: Gặt vụ mùa
Lưỡi liềm trong tay Cốc lạnh hơn mọi lưỡi liềm cậu từng cầm, và cậu biết vì sao.
Sáng mồng hai tháng Chín, ruộng tầng một vào gặt. Cả núi ra đồng như mọi mùa, nội môn, ngoại môn, tạp dịch, đệ tử chân truyền của trưởng lão Quan Tinh Đài cũng phải xuống, vì lệ gặt không trừ ai. Cốc cúi xuống, tay trái vơ một nắm lúa, tay phải kéo liềm. Gốc rạ đứt kêu sột một tiếng như xé lụa. Và cái khí lạnh sắc của mùa thu, suốt tháng Tám cậu phải áp tay lên cây cột đồng mới gọi được. Giờ nó đi thẳng từ cán liềm vào lòng bàn tay cậu, theo từng nhát cắt, như sương đọng lên lưỡi thép.
Mùa thu là mùa liềm hái. Bà Yên nói thế từ hồi tháng Hai. Cậu đã quên.
Cậu cắt nhanh hơn mọi người trong hàng. Không phải vì cậu cố. Vì cứ mỗi nhát liềm, tay cậu lại nhẹ đi, mắt lại sáng thêm một chút, như người được uống một ngụm nước giếng giữa trưa.
Bên trái cậu, con Mơ ôm lượm lúa chạy lên bờ, chạy xuống, chạy lên, chân không lấm bùn tới đầu gối, miệng hát một bài đồng dao về con cò. Thằng Tẹo chạy theo nó, nhặt bông lúa rơi. Tháng Sáu nó còn gầy như que củi. Giờ hai má nó đã có thịt, Bổng bảo nó ăn ba bát cơm mỗi bữa, mỗi bát nén chặt như nén bánh. Con Nhót vẫn bé, nhưng nó chạy được cả buổi sáng không ngất. Thằng Cún thì ngã xuống ruộng bốn lần, lần nào bò lên cũng cười.
Ở tầng một ít tiếng ho hơn mọi mùa. Cốc nhận ra điều ấy khi đã gặt được nửa buổi sáng. Không phải hết ho. Những đứa lớn vẫn ho, những đứa trên mười ba tuổi không có chiếu vẫn ho. Nhưng ít hơn.
Và lúa tầng một nhạt hơn.
Cậu nhìn thấy điều ấy từ lúc đứng trên bờ, trước khi lội xuống. Không nhạt nhiều. Một chút. Như vải nhuộm chàm lần thứ ba thay vì lần thứ tư. Những khóm sát bờ dãy nhà Lúa, những khóm mà vụ xuân xanh tới mức gần như đen, giờ chỉ xanh như mọi khóm khác. Bông lúa vẫn trĩu, nhưng cầm lên lắc thì tiếng hạt kêu không chắc bằng vụ xuân. Lắc kỹ thì có những hạt lép.
Ông Bá Hiền đi dọc bờ, chân không, gậy tre, cúi xuống cầm từng bông lúa lên lắc bên tai. Ông không cười. Ông lắc, ông nghe, ông đặt bông lúa xuống, ông đi tiếp.
Gặt mất mười lăm ngày, từ tầng một lên tầng bảy. Ngày nào Cốc cũng cầm liềm. Ngày mười một, ở tầng năm, lúc mặt trời xế về phía tây, cậu cắt một nhát, và cái khí lạnh sắc trong người cậu gặp một chỗ đầy, dừng lại, không đi qua được nữa. Đỉnh tầng tám. Bà Yên đã nói: thu lên nhanh thì đông khó giữ. Cậu không ép. Cậu cắt tiếp.
Ngày mười ba, ở bờ tầng sáu, trưởng lão Doãn Khắc đi qua chỗ Cốc đang ngồi mài liềm. Ông dừng lại, cúi xuống nhặt một bông lúa trong lượm lúa cậu vừa cắt, vê những hạt lép giữa hai ngón tay cho trấu rơi lả tả.
– Mỗi hạt lép này là một bát cơm. – Ông nói, không to, như giảng bài ở Truyền Công đường. – Của ai đó. Mùa đông năm nay.
– Dạ.
– Ngươi tưởng ta ghét bọn trẻ con à? – Ông thả bông lúa xuống. – Ta dạy chữ cho đám ngoại môn bốn mươi năm. Đứa nào cũng từng là trẻ con. Ta chỉ biết đếm. Người biết đếm thì không ngủ được.
Ông đi tiếp, chắp tay sau lưng, bước qua những gốc rạ như bước qua những hàng chữ.
Tối hôm ấy Mận chạy lên tận mỏm đá đường lên Đỉnh Gió, giơ cho Cốc xem một mảnh giấy bản gấp tư, chữ của một ông thầy đồ trong bản. Bà ngoại nó đã thôi ho ra máu. Bà đã ra được tới bờ suối giặt áo. Mận đọc to hai lần, rồi gấp mảnh giấy lại, nhét vào ngực áo, rồi đứng đó cười, cái răng khểnh lộ ra, nước mắt chảy ròng ròng mà không lau.
Chiều mười sáu tháng Chín, sân phơi cạnh Bếp Lớn chất thóc thành từng đống vàng như núi nhỏ. Ông Bá Hiền ngồi trên một cái ghế đẩu giữa sân, đặt cái bàn tính gỗ lên đầu gối. Người ta đứng quanh ông như đứng quanh người đọc tên trúng tuyển.
Ông gảy. Lách cách. Lách cách. Cái âm thanh ấy, những ngày trước Cốc nghe thấy vui như tiếng mõ phát cơm. Giờ nó nghe như tiếng ai gõ móng tay lên vách quan tài.
Ông gảy xong. Ông nhìn cái bàn tính một lúc lâu. Rồi ông gảy lại từ đầu.
– Vụ mùa một nghìn bảy trăm thạch. – Ông nói. Giọng ông vẫn tròn, vẫn ấm, nhưng không còn chút gì là hồ hởi. – Cộng vụ xuân hai nghìn một trăm. Ba nghìn tám trăm. Cống bốn nghìn năm trăm. Thiếu bảy trăm.
Sân phơi im lặng. Rồi người ta tản ra, từng nhóm, thì thầm. Không ai nhìn ai. Có mấy đệ tử ngoại môn nhìn về phía hiên dãy Tư, nơi đám trẻ con đang ngồi bóc lúa rơi, rồi nhìn về phía Cốc. Cậu thấy trong những cái nhìn ấy một thứ trước đây cậu chưa từng thấy ở ai trên núi này. Không phải khinh. Không phải giận. Như người ta nhìn một con đê vừa được đắp cao lên, biết là phải đắp, mà nước thì vẫn đang dâng.
Ông Bá Hiền ngồi lại một mình trên ghế đẩu, cái bàn tính trên đầu gối.
Tối ấy, Cốc không lên Đỉnh Gió ngay.
Cậu đi xuống bờ tầng một, chỗ khúc bờ dưới dãy nhà Lúa mà cậu đã xếp lại hồi đầu tháng Bảy. Ruộng đã gặt trơ gốc rạ, nước đã tháo, ếch nhái vẫn kêu. Trời không trăng. Mười sáu tháng Chín, trăng vừa qua rằm, phải tới giữa canh một mới lên.
Ông Bá Hiền đang ngồi ở đó.
Ông ngồi trên bờ đá, hai chân thõng xuống ruộng, cái đèn lồng giấy dầu đặt bên cạnh, không thắp. Ông nghe tiếng chân, quay lại, thấy cậu, rồi nhích sang một chút cho cậu chỗ ngồi.
Cốc ngồi xuống.
Một lúc lâu cả hai không nói gì. Cốc nhìn xuống mặt ruộng tầng một. Những năm trước, cha kể, đêm ở đây có ánh xanh lờ mờ như đom đóm lặn dưới bùn. Đêm nay cậu nhìn mãi mới thấy. Nó vẫn có. Nhưng mờ hơn, thưa hơn, như những con đom đóm cuối mùa.
– Mờ đi rồi. – Ông Bá Hiền nói, như đọc được ý cậu. – Sáu mươi năm bác ngồi đây, chưa năm nào nó mờ thế này.
– Dạ.
– Năm ba trăm năm mươi mốt bác bảy mươi chín tuổi. – Ông nói. – Bác theo thầy bác coi ruộng được ba mươi năm rồi. Năm ấy không có mưa. Năm sau cũng không. Cháu chưa thấy hạn bao giờ đâu. Hạn thật ấy. – Ông nhìn ra phía bóng tối, về phía đồng bằng xứ Lũng Hạ dưới chân núi, nơi những đốm đèn của các làng lấm tấm như sao rơi. – Bác xuống làng Gò Mạ của cháu năm ấy, mang gạo xuống phát. Bác thấy trẻ con ngồi ở bờ ao cạn bốc đất sét ăn. Đất sét trắng, ở đáy ao. Chúng nó bảo ăn vào thì đỡ cồn ruột. Có đứa ăn rồi không đi ngoài được, bụng chướng lên như cái trống. Bác bế một đứa như thế đi suốt nửa ngày lên núi tìm thầy thuốc. Lên tới cổng thì nó đã lạnh.
Cốc không nói gì.
– Thầy bác bảo bác: coi ruộng là coi cái bụng của người ta. – Ông nói. – Ruộng hụt thì bụng người ta hụt. Bác nhớ câu ấy sáu mươi năm.
Ông với tay lấy cái đèn lồng, lật đi lật lại trong tay, không thắp.
– Mùa đông này Thiên Hành Cung tới. – Ông nói. – Thiếu bảy trăm thạch. Không phải ba trăm. Bảy trăm. Bác không biết họ sẽ làm gì. Cái người mới, cái ông Vô Niên ấy, bác không biết ông ta là người thế nào. – Ông ngừng lại. – Bác sợ, cháu ạ. Bác sáu mươi năm không sợ. Năm nay bác sợ.
– Bác hối hận vì cho bọn nhỏ nằm chiếu?
Ông Bá Hiền quay sang nhìn cậu. Trong bóng tối không trăng, Cốc chỉ thấy lờ mờ cái mặt tròn của ông, cái cằm có râu lún phún.
– Không. – Ông nói. – Bác không hối hận. Con Mơ của cháu chạy cả buổi sáng ngoài ruộng mà không ngất. Thằng Tẹo béo ra. Con Nhót hết ngất. Bác nhìn thấy. Bác không mù. – Ông thở dài. – Cháu làm đúng. Bác biết cháu làm đúng. Sư cô làm đúng. Thằng Mông làm đúng.
Ông đặt cái đèn lồng xuống.
– Nhưng mùa đông này ai trả giá?
Cốc không trả lời được.
Gió từ phía bắc lùa xuống, lạnh, mang theo mùi rơm mới. Đã gần cuối thu. Năm hôm nữa là vào mười tám ngày Thổ.
– Thôi. – Ông Bá Hiền nói. Ông đứng dậy, chậm, tay chống lên đầu gối. – Cháu lên đi. Sư cô đợi. Bà ấy ăn cơm muộn quá lại đau dạ dày.
Ông cầm cái đèn lồng, đi dọc bờ về phía gian nhà có giàn mướp. Đi được mấy bước, ông dừng lại.
– Cháu Cốc.
– Dạ.
– Thuốc cho bà con Mận ấy. Có người không tên gửi. – Ông nói, không quay lại. – Bác biết người ấy là ai. Bác không nói đâu. Thằng ấy giống mẹ nó.
Ông đi tiếp. Tiếng chân không của ông trên bờ đá lẫn vào tiếng ếch nhái, rồi mất.
Cốc ngồi lại một mình. Cậu lấy con quay ra, quấn dây, đặt xuống mặt bờ đá, giật. Con quay chạy vo vo trên đá, ở đúng một chỗ, không trôi đi đâu cả. Bờ đá này không có trận. Năm màu nhòa vào nhau thành một màu xám nhạt như khói rơm, một chấm đen chạy vòng vòng.
Cậu nhìn nó chạy, và cậu nghĩ tới đứa trẻ ngồi bên bờ ao cạn bốc đất sét trắng ăn. Cậu nghĩ tới chú Ba Trấu, mẹ chú chết không phải đói. Cậu nghĩ tới cái bàn tính gỗ trên đầu gối Ông Bá Hiền, gảy hai lần mà vẫn ra một con số.
Con quay chao, rồi đổ.
Trên Đỉnh Gió, xa và cao trong bóng tối, ngọn đèn dầu của gian nhà gỗ vẫn còn cháy, chỉ bằng một hạt đậu. Cốc nhặt con quay lên, đứng dậy, đi về phía chín trăm bậc.
Lúc qua sân phơi, cậu thấy những đống thóc vàng đã được phủ chiếu, chèn đá, để qua đêm. Một nghìn bảy trăm thạch. Cậu đi ngang qua chúng, và cậu thấy có một người đứng ở góc sân phơi, cạnh đống thóc cuối cùng, một tay đặt lên lớp chiếu phủ.
Trưởng lão Doãn Khắc. Một mình. Ông không nhìn thấy Cốc. Ông đứng đó, tay đặt trên đống thóc, môi mấp máy như đang đếm.
— Hết chương 27 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe