Chương 30: Thầy và trò cũ
Ba bậc đá cuối cùng kêu cạch, cạch, cạch, và Cốc biết lần này ông muốn được nghe thấy.
Chiều mồng mười tháng Mười, Tôn Hoài Cẩn lên Quan Tinh Đài bằng chân. Ông đi chín trăm bậc như một ông già, chậm, dừng lại ở từng tảng đá nghỉ. Không có mười hai người áo trắng theo sau. Không có áo lam sẫm thêu sóng vàng. Ông mặc một cái áo nâu cũ, sờn vai, loại áo tạp dịch mà Cốc đã mặc suốt mùa xuân. Lúc ông bước lên mặt đài, Cốc thấy ở chỗ vai áo ấy bạc trắng gần như vải mộc, như cái áo trong tủ gỗ ở Chấp Pháp đường.
Bà Yên ngồi trên ghế tre dưới gốc chè. Bà đã bảo Cốc: mày ngồi đấy, nghe, không được đi đâu. Cậu ngồi trên rễ chè, bên chân bà.
Tôn đứng ở mép đài một lúc, nhìn quanh. Nhìn cây cột đồng. Cái thước đá. Gian nhà gỗ. Gian chứa củi cửa hướng đông. Ông nhìn gian chứa củi lâu nhất.
– Vẫn cái ổ rơm ấy à? – Ông hỏi.
– Rơm thì mỗi năm thay. – Bà Yên nói.
Ông gật đầu. Rồi ông đi tới, ngồi xuống bậc đá trước nhà gỗ, cách bà mấy bước, hai tay đặt trên đầu gối, như Kiều Vọng đã ngồi hồi tháng Tám. Lưng ông vẫn thẳng.
Một lúc lâu không ai nói gì. Gió đầu đông thổi qua tán chè. Một chiếc lá vàng rơi xuống vai ông. Ông không phủi.
– Sáng hôm ấy con không định chết. – Tôn nói. Giọng ông nhẹ, đều, như kể chuyện thời tiết. – Thầy chắc nghĩ thế. Cả núi nghĩ thế. Con chỉ không muốn ở lại đây nữa. Con đi về phía Vực Sương vì đó là chỗ duy nhất không ai đi theo. Con đi vào sương. Sương dày tới mức con không thấy tay mình. Con bước hụt.
Bà Yên ngồi im.
– Con rơi chừng ba trăm sải. Rồi một cái rễ thông già chìa ra khỏi vách đá đỡ con lại. – Ông nói. – Con nằm trên cái rễ ấy chín ngày. Uống sương. Kinh mạch vỡ, không dẫn được một sợi khí, không leo lên được, không leo xuống được. Ngày thứ mười, có một người hái thuốc của Thiên Hành Cung đi dây xuống vực tìm nấm sương. Ông ta thấy con. Ông ta tưởng con là cái xác.
– Rồi họ đưa mày về Quảng Diệu.
– Về Quảng Diệu. – Tôn nói. – Trận sư của họ xem kinh mạch con. Họ bảo đứa này không bao giờ tu lại được nữa. Họ cho con làm việc ở kho thuốc. Con nằm một năm. Rồi con đứng dậy được. Rồi con làm ở kho thuốc mười năm. Ở đó có một trăm hai mươi đứa tạp căn. Không có trận nào dưới sàn cả. Không cần trận. Chúng nó cứ tầng ba mà dừng, vì không ai dạy, vì không ai đợi. Rồi chúng nó già. Rồi chúng nó chết.
Bà Yên hỏi, giọng khàn:
– Mẹ mày?
– Mất mùa thu năm sau. – Tôn nói. – Người làng bảo bà ngồi ở cổng sơn môn đợi con mấy tháng liền, rồi về, rồi mất. Con nằm ở kho thuốc bên kia núi, không đi được. Con biết tin thì đã ba năm.
Ông nhìn ra phía đông, phía bảy tầng ruộng.
– Mười năm con ngồi nghĩ một câu. – Ông nói. – Mùa không chờ ai. Thế thì sao con phải chờ mùa? Thầy dạy con mỗi mùa một hành, năm hành lần lượt, một vòng năm. Thầy dạy con trận văn, thầy vẽ cho con xem trên cái thước đá kia. Con ghép hai cái ấy lại. Con dựng một cái trận làm ra mùa. Một vòng năm, ép vào bốn mươi chín ngày. Mỗi mùa mười hai ngày, Thổ một ngày ở giữa. Ngồi trong ấy bốn mươi chín ngày thì tu được bằng người ngồi dưới gốc chè một năm.
– Tiểu Tuế Trận. – Bà Yên nói.
Tôn quay sang nhìn bà.
– Thầy biết tên nó?
– Mày nói tên nó với tao năm ba trăm năm mươi bảy. – Bà nói. – Mày ngồi đây, chỗ mày đang ngồi, mày hỏi tao có đường nào không phải chờ mùa không. Tao bảo không có. Mày bảo nếu có thì mày làm một cái trận nhỏ, gọi là Tiểu Tuế. Gọi cái đường ấy là đường vô niên.
Tôn im lặng rất lâu.
– Con quên là con đã nói. – Ông nói cuối cùng. – Con chỉ nhớ thầy bảo không có.
– Giá của nó là gì?
– Thầy biết giá của nó.
– Tao muốn mày nói ra. – Bà Yên nói. – Trước mặt thằng này.
Tôn nhìn Cốc. Đôi mắt xám nhạt, trong như nước giếng.
– Mỗi năm giả, đốt mười năm thật. – Ông nói. – Không phải đốt của ai khác. Đốt của người ngồi trong trận. Con ngồi sáu mươi năm giả. Từ Luyện Khí tầng không lên tới Nguyên Anh. Con đốt sáu trăm năm. – Ông giơ một bàn tay lên, lật đi lật lại, nhìn những nếp nhăn mỏng như giấy bản. – Con bảy mươi bảy tuổi. Người ta bảo con trông như một trăm hai mươi. Họ nói sai. Con trông như sáu trăm bảy mươi bảy, chỉ là da con không biết đếm.
Cốc nghĩ tới cái bóng dài đổ về phía tây giữa trưa.
– Cái bóng của ông. – Cậu nói.
Tôn mỉm cười. Lần đầu tiên từ lúc lên đài.
– Cháu để ý những cái không đâu. – Ông nói. – Trong người ông lúc nào cũng có một mùa giả đang chạy. Ông mang nó theo như người ta mang một cái bếp lò trong ngực. Mặt trời của mùa ấy không phải mặt trời này. Có lúc ông sơ ý, nó lòi ra. – Ông nhìn sang cái thước đá. – Cái chấm than thứ hai đêm qua, giữa Đông chí với Tiểu Hàn, chỗ không có tiết nào. Trong lịch của ông có một tiết ở chỗ ấy. Tiết thứ hai mươi lăm. Ông gọi nó là Vô Niên.
Bà Yên nhắm mắt lại.
– Còn mười hai tông. – Bà nói. – Còn cống. Mày làm cái gì?
– Con lên được Nguyên Anh thì Thiên Hành Cung không cho con ngồi kho thuốc nữa. – Tôn nói. – Con làm sứ giả. Con đi khắp mười hai tông. Ở đâu cũng có tạp căn. Ở đâu chúng nó cũng là người cấy, người gánh, người ngủ ở dãy nhà cuối cùng. Chỉ có ở đây là có thêm cái trận. – Ông ngừng lại. – Đầu năm nay con xin Thiên Hành Cung tăng cống cho cả mười hai tông. Con tính rồi. Không tông nào nộp đủ. Tông nào thiếu thì nộp bằng người. Con chỉ lấy tạp căn. Mười một tông kia đã nộp xong. Bốn trăm mười đứa đang ở Quảng Diệu. Mỗi đứa có một cái Tiểu Tuế Trận của riêng nó. Ba năm nữa đứa nào cũng Trúc Cơ.
– Rồi chết năm ba mươi tuổi. – Bà Yên nói.
– Rồi sống tới năm ba mươi tuổi, Trúc Cơ, có kiếm, có tên, có người gọi là sư huynh. – Tôn nói, và lần đầu tiên giọng ông không còn nhẹ. – Thay vì sống tới năm năm mươi tám tuổi, tầng ba, ho, ngủ trên một cái giường cuối dãy, chôn ở sườn bắc dưới một tấm bia không chữ. Thầy nói con nghe. Cái nào tốt hơn?
Cốc nghĩ tới chú Ba Trấu. Mát, chú nói. Như Bổng đã nói.
Bà Yên không trả lời câu ấy.
– Mày về đây làm gì? – Bà hỏi. – Lấy thêm một trăm đứa thì mày gửi người tới cũng được.
Tôn nhìn bà. Rồi ông nhìn cây cột đồng, nhìn cái vòng tròn năm khía bằng than ông vẽ đêm qua vẫn còn nguyên trên mặt đá cạnh chân cột, vì Cốc không lau.
– Con muốn thầy nhìn. – Ông nói. – Sáu mươi năm thầy ngồi trên này nhìn cái bóng. Con muốn thầy nhìn một lần cái thầy đã làm ra. Cái trận của thầy, và cái trận của con. Rồi thầy nói con nghe cái nào tệ hơn.
Ông quay sang Cốc.
– Còn cháu. – Ông nói. – Ông về vì cháu nữa.
– Vì con?
– Sáu mươi năm, ông chưa thấy ai đi đúng con đường thầy ông vẽ ra. Ông đi sai. Ông vỡ. Mười một tông kia không có ai đi. – Ông nhìn xuống túi áo trái của Cốc, nơi đầu con quay thò lên. – Hôm ở chợ phiên, ông thấy cháu thở. Ông biết ngay. Ông muốn xem cháu đi tới đâu. Ông ghé nhà cháu, hỏi u cháu cháu có nghẽn chỗ nào không. U cháu bảo u cháu không biết. U cháu tốt lắm.
– Mộc của con thiếu. – Cốc nói.
– Hai mươi lăm ngày. – Tôn nói. – Cháu biết rồi. Thầy ông chắc đã nói. Lúc dựng nền, cạnh ấy sẽ ngắn. Ngắn thì đài nghiêng. Nghiêng thì như con quay có một múi nặng. – Ông giơ một ngón tay lên. – Bốn mươi chín ngày. Cháu vào trận của ông. Ông chỉnh cho cháu, chỉ để mùa Xuân giả chạy, mười hai ngày Mộc, đủ bù chỗ thiếu. Lập Xuân cháu dựng nền, đủ năm cạnh. Mất của cháu chừng mười năm. Cháu mười lăm tuổi. Trúc Cơ sống tới hai trăm. Mười năm có đáng gì.
Bà Yên mở mắt. Bà không nhìn Tôn. Bà nhìn Cốc.
Cậu không biết bà đang đợi cậu nói gì. Cậu cũng không biết mình sẽ nói gì. Cậu thò tay vào túi áo trái, sờ con quay. Vệt cháy trên múi đỏ sần sật dưới đầu ngón tay.
– Con chưa trả lời được. – Cậu nói.
– Ông không đòi cháu trả lời hôm nay. – Tôn nói. – Ông cũng không bắt ai. Không bắt cháu, không bắt một đứa tạp dịch nào. Lệ thì lệ, ông là người lôi cái lệ cũ ấy ra dùng, ông biết nó xấu. Ông chỉ cho người ta xem.
Ông đứng dậy. Mặt trời đã xuống thấp, đỏ như hòn than, nằm trên rặng núi phía tây. Ông đi ra mép đài phía đông, nhìn xuống. Cốc đi theo.
Bên dưới, xa tít, ở bãi đất trống sau sân phơi, cạnh dãy nhà Lúa thứ tư, có một vòng tròn sáng.
Mờ thôi, như một vòng ánh trăng rơi xuống đất. Rộng chừng hai mươi bước chân. Trong cái vòng ấy, cỏ xanh. Không phải cái màu cỏ úa đầu đông của mọi chỗ khác trên sườn núi. Xanh non, mướt, như cỏ gà sau trận mưa tháng Ba. Ở giữa vòng có một gốc đào dại mọc từ bao giờ không ai để ý, và trên những cành trơ trụi của nó, ngay giữa tháng Mười, có ba bốn bông hoa hồng nhạt vừa nở.
Quanh cái vòng ấy, đã có người đứng. Nhỏ như những con kiến. Mấy đứa trẻ con. Mấy đứa lớn hơn. Đứng sát mép vòng sáng, nhìn vào.
– Cửa trận. – Tôn nói. – Ai muốn thử một đêm thì bước vào. Ai không muốn thì thôi.
— Hết chương 30 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe