Chương 7: Chợ phiên Gò Mạ
Túi tiền bên hông Mận kêu xủng xoẻng suốt con đường xuống núi, và Cốc đếm được ít nhất bốn lần nó đưa tay lên giữ cho nó im.
Sáng mồng một tháng Ba, phiên chợ đầu tháng. Theo lệ, mỗi phiên chợ một dãy nhà Lúa được xuống núi từ gà gáy tới chiều tối. Phiên này tới lượt dãy Hai. Bổng không đi, vì Bếp Lớn hôm ấy giết lợn. Mận đi, vác trên vai một cái bao tải to phồng nhưng nhẹ tênh, trong đựng vỏ trấu linh mễ đã phơi khô.
– Gối trấu linh mễ, nằm một đêm sáng ra không mỏi cổ. – Nó nói, như đã rao câu ấy cả trăm lần. – Người làng mua về cho ông bà già. Năm chục đồng một cái gối. Vỏ trấu tớ xin không ở cối xay của Bếp Lớn. Vốn bằng không.
– Thế sao cậu có nhiều tiền thế?
Mận khựng lại nửa bước. Rồi nó cười, cái răng khểnh lộ ra.
– Buôn bán mà. Tháng trước được giá.
Nó đi nhanh lên trước. Cốc không hỏi nữa.
Con đường từ cổng sơn môn xuống làng Gò Mạ dài gần nửa ngày đi bộ, đầu là dốc đá, giữa là rừng thông, cuối là đồng bằng phẳng như cái mâm. Tháng Ba ở xứ Lũng Hạ, lúa làng vừa cấy xong được một tháng, xanh non, thấp, gió lướt qua là rạp xuống như lông mèo. Trên các bờ ruộng, cỏ gà mọc lên mướt. Cò trắng đứng một chân dọc mương. Cốc đi giữa những thứ ấy và thấy chúng như lần đầu được thấy. Cái mầm xanh trong người cậu ngọ nguậy mỗi khi đi qua một bụi tre, một khóm chuối, một cây khế ra lộc.
Mận rẽ vào chợ. Cốc đi thẳng về nhà.
Nhà cậu ở cuối xóm Đìa, ba gian vách đất, mái rạ, trước sân có một cái ao bèo, sau nhà có một khóm chuối tây và một cây mít đã già. Cái cành to nhất của cây mít ấy, bị bão đánh gãy năm Cốc lên bảy, đã cho gỗ làm con quay. Khi Cốc bước qua cái cổng tre, u đang ngồi ở hiên đan rổ, chân duỗi, cái thúng nan để bên cạnh. U ngẩng lên. Tay u đang cầm nan dừng lại giữa chừng.
– Cốc.
Con Mơ từ trong bếp chạy ra, chân không, tóc buộc túm bằng một sợi dây chuối, nhảy bổ vào người cậu.
– Anh! Anh sáng màu gì? Màu đỏ hả? Cả làng bảo anh sáng màu xám, em bảo không phải!
– Anh sáng màu đẹp nhất. – Cốc nói, xoa đầu nó.
– Màu gì?
– Màu của con quay khi nó chạy.
Con Mơ ngẩn ra một lúc, rồi kêu lên vì nó hiểu, vì nó đã từng ngồi xem cha quay con quay ngoài sân. Nó đòi xem ngay. Cốc lấy con quay ra. Nó thấy vệt cháy trên múi đỏ, hỏi ai làm. Cốc bảo cậu đánh rơi vào bếp. Nó không tin, nhưng nó mải quay, quay đi quay lại trên nền sân đất nện, cười khanh khách mỗi lần nó thành màu xám.
U không hỏi gì cả. U chỉ nhìn cậu. U nhìn lâu, như người mua vải nhìn mặt vải dưới nắng.
– Gầy đi. – U nói. – Mà mắt sáng ra.
Rồi u ho. Một tràng ho dài, khô, phải úp mặt vào cánh tay. Cốc ngồi xuống bên cạnh, vỗ lưng u. Lưng u gầy hơn tháng trước, cậu thấy rõ từng đốt xương sống dưới lớp áo nâu.
– Từ bao giờ thế u?
– Từ Tết. Rét thôi. Ấm lên là khỏi.
Cốc lấy trong túi áo ra ba viên linh thạch, lương tháng Hai. Cậu đặt vào tay u. U nhìn ba hạt đá trắng mờ trong lòng bàn tay mình như nhìn ba hạt ngọc.
– Con giữ lấy mà ăn.
– Trên núi có cơm. – Cốc nói. – Tháng sau con gửi tiếp.
Cậu không nói lương tháng Ba của cậu đã bị giữ lại. Cậu không nói nếu tháng này cậu còn ngủ ở chỗ khác, sẽ không có tháng sau. Cậu đứng dậy, cầm cái thúng của u.
– Con ra chợ mua thuốc cho u.
Chợ phiên Gò Mạ họp ở bãi đất trống đầu đê, dưới hai cây gạo cổ thụ đang trổ hoa đỏ rực. Người ta trải chiếu, trải lá chuối, bày hàng ra đất. Bên này là gạo, ngô, khoai, sắn. Bên kia là cá đồng, cua, ốc, lươn trong những cái chậu sành. Hàng bún riêu bốc khói thơm lừng mùi mẻ, tám đồng một bát. Hàng thuốc bắc của ông lang Thục bày mấy chục cái túi giấy nhỏ, cái nào cũng ghi tên vị thuốc bằng nét bút lông run run.
Cốc đổi một viên linh thạch ở sạp đổi tiền của bà Tám, được hai lượng bạc. Viên này không phải lương, mà là tiền công ba ngày cậu làm thêm, gánh phân cho tầng hai hồi cuối tháng Giêng. Cậu mua của ông lang Thục ba thang thuốc ho, ba mươi đồng một thang. Mua một xâu cá khô. Mua cho con Mơ một cái kẹp tóc bằng sừng.
Rồi cậu thấy ông già bán hạt giống.
Ông ngồi một mình dưới gốc cây gạo thứ hai, trên một tấm chiếu cói đã sờn. Trước mặt ông bày chừng hai chục cái túi vải nhỏ, miệng buộc dây, mỗi túi một thứ hạt. Hạt bầu, hạt bí, hạt mướp, hạt cải, hạt rau dền, hạt đỗ. Ông già lắm, già hơn bất cứ ai Cốc từng gặp. Tóc trắng như cước, lông mày trắng dài rủ xuống tận khóe mắt, da mặt nhăn và mỏng như giấy bản. Nhưng lưng ông thẳng, và hai bàn tay đặt trên gối không run.
Cốc định đi qua. Rồi cậu nghe ông già nói, giọng nhẹ và rõ, như người ta đọc thơ:
– Thằng bé này thở bằng cách chạm lưỡi lên vòm miệng. Ai dạy cháu thế?
Cốc dừng lại.
Ông già không nhìn cậu. Ông nhìn ra phía bãi chợ, nơi người ta đang mặc cả một con gà mái.
– Cháu không biết ông nói gì. – Cốc nói.
– Thế à. – Ông già gật gù. – Thế thì ông nói nhầm. Già rồi, nghe nhầm, nhìn nhầm.
Cốc ngồi xổm xuống trước chiếu. Cậu cầm một túi hạt bầu lên, giả vờ xem.
– Bao nhiêu tiền một túi hả ông?
– Năm đồng. Cháu muốn thì cho không. – Ông già nghiêng đầu, lần đầu tiên nhìn thẳng vào cậu. Mắt ông xám nhạt, trong như nước giếng. – Ông bán hạt năm mươi năm rồi, nhìn người như nhìn hạt. Hạt nào chắc, hạt nào lép, hạt nào gieo muộn. Cháu là hạt gieo muộn.
– Gieo muộn là sao ạ?
– Mộc của cháu thiếu. Thiếu từ đầu xuân. – Ông nói, nhẹ nhàng, như nói chuyện thời tiết. – Một hạt mộc gieo vào cuối tháng Giêng thì không bao giờ bằng hạt gieo đầu tháng Giêng. Nó vẫn lên, nhưng thân nó gầy hơn một chút. Một chút thôi. Mà đôi khi một chút là đủ.
Cốc cầm túi hạt bầu, không nói được gì.
Ông già nhìn xuống túi áo bên trái của cậu, nơi cái đầu con quay đang thò lên khỏi miệng túi.
– Con quay của cháu à?
– Của cha cháu.
– Đẹp. – Ông già nói. – Năm màu. Quay bao lâu thì đổ?
– Lâu thì một nén hương ạ.
– Một nén hương. – Ông già lặp lại, như nhai một hạt lạc. – Nó đổ vì nó phải chờ tay người giật dây. Nó không tự quay được. Mùa cũng thế, cháu ạ. Mùa không chờ ai. Ai cũng phải chờ mùa. – Ông ngừng lại, rồi nói thêm, giọng nhỏ hơn. – Nhưng cũng có người bắt được mùa chờ mình.
– Bắt bằng cách nào ạ?
Ông già cười. Nụ cười làm mặt ông nhăn thêm như vỏ quả táo tàu khô.
– Ông nói nhầm rồi. Già rồi.
Ông nhặt một túi hạt bầu khác, to hơn túi Cốc đang cầm, đặt vào tay cậu.
– Cho em gái cháu. Bầu gieo tháng Ba, tháng Sáu có quả. Bảo em trồng cạnh ao, cho dây leo lên giàn tre. Đừng trả tiền. Cứ gọi ông là ông Không. Ông Không bán hạt.
Cốc cầm hai túi hạt bầu đứng dậy. Cậu cúi đầu chào. Lúc ấy là giữa trưa, mặt trời đứng đỉnh, nắng tháng Ba gay gắt dọi thẳng xuống bãi chợ. Bóng người đi chợ co lại thành những vũng đen nhỏ dưới chân, bóng cây gạo thu lại thành một vòng tròn quanh gốc.
Cốc nhìn xuống chiếu của ông Không.
Bóng của ông già không co lại. Nó đổ dài ra phía sau lưng ông, về phía tây, dài gấp đôi người ông, mảnh và rõ, như cái bóng của cây cột đồng trên Quan Tinh Đài vào lúc giờ Thìn.
Cốc đứng sững. Một tháng nay, ngày nào cậu cũng nhìn cái bóng cây cột đồng ngắn dần trên thước đá, từ lúc mặt trời mọc cho tới lúc bà Yên cúi xuống đánh dấu vạch trưa. Cậu biết bóng giờ Thìn dài thế nào, giờ Ngọ ngắn thế nào. Cậu chớp mắt.
Một đám người khiêng con lợn đi qua giữa cậu và gốc cây gạo, che khuất ông già. Khi họ đi qua, Cốc nhìn lại. Ông Không đang cúi xuống buộc lại miệng một túi hạt mướp. Bóng ông nằm gọn dưới người ông, ngắn và tròn như bóng của mọi người khác.
Chiều hôm ấy, Cốc đưa thuốc cho u, cá khô cho bữa tối, cái kẹp tóc sừng và túi hạt bầu cho con Mơ. Con Mơ đòi gieo ngay. Hai anh em ra cạnh ao, xới một khoảnh đất, tra hạt, cắm sẵn mấy cây tre làm giàn. Lúc cậu đi, con Mơ đứng ở cổng tre, tóc kẹp lệch, tay vẫy, chân lấm đất.
Mận đã đợi cậu ở đầu đê. Cái bao trấu trên vai nó đã xẹp lép. Nó đội một cái nón lá mới, vành còn trắng tinh.
Trên đường về, qua khỏi rừng thông, Mận đi chậm lại cho ngang hàng với cậu.
– Lúc trưa cậu ngồi ở chỗ ông già bán hạt lâu thế. Ông ấy nói gì?
– Ông ấy cho con Mơ túi hạt bầu.
– Thế thôi à? – Mận nghiêng đầu. – Tớ thấy cậu đứng như trời trồng.
Cốc nhìn nó. Từ bãi chợ, chỗ hàng trấu của Mận, phải nhìn qua cả chục sạp hàng và hai gốc gạo mới thấy chỗ ông Không ngồi.
– Ông ấy bảo tớ là hạt gieo muộn. – Cậu nói. – Ông già nói lẩn thẩn.
Mận cười, rồi kéo vành nón mới xuống che mắt.
Hai đứa về tới cổng sơn môn thì trời đã tối. Dãy nhà Lúa sáng đèn sớm hơn mọi hôm. Ở hiên dãy Hai có đông người đứng, chen nhau nhìn một tấm bảng gỗ mới treo lên cột hiên.
Bổng chen ra, mặt lo lắng, tay còn dính mỡ lợn.
– Cốc. Mày đọc đi. Tao không... trời tối, tao không đọc rõ.
Cốc đọc. Chữ viết bằng mực đen, nét cứng, cuối tờ đóng dấu đỏ của Chấp Pháp đường.
"Kể từ đêm nay, mồng một tháng Ba, tạp dịch ba dãy nhà Lúa phải có mặt trên giường mình khi điểm danh canh hai. Người điểm danh do Chấp Pháp đường cử. Vắng một lần, giữ lương. Vắng hai lần, xuống núi."
Cuối dòng là tên trưởng lão Mông Thiết Lâm.
Cốc ngẩng lên. Trên Đỉnh Gió, xa và cao trong bóng tối, có một ngọn đèn dầu nhỏ đang cháy ở gian nhà gỗ của bà Yên, chỉ bằng một hạt đậu.
— Hết chương 7 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe