AI Truyện
Con quay năm màu

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Giao thừa

Con quay năm màu · Chương 34/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 34: Giao thừa

– Ai muốn ngủ trên ấy thì đứng sang bên phải. Ai không muốn thì đứng sang bên trái. Không ai bắt.

Trưởng lão Mông nói câu ấy lúc chập tối ngày hai mươi chín tháng Chạp, giữa sân trước dãy nhà Lúa, trước mặt một trăm mười bảy tạp dịch. Ông đã nói với chúng nó suốt nửa canh giờ. Ông nói hết. Cái trận dưới sàn. Cái lõi trong Hang Mạ. Sáu mươi năm. Cô Lan, cô Sen, chú Ba Trấu. Đêm nay khí sẽ chảy về, về đúng cái giường nó ra đi. Ai đang ngủ thì nhận được. Ai thức thì không. Ông không nói tránh chữ nào. Giọng ông khô và ngắn như đọc luật.

Sân im lặng. Trời không trăng. Tháng Chạp năm nay thiếu, không có ngày ba mươi, đêm nay là đêm cuối năm. Mấy ngọn đuốc cắm ở hiên dãy nhà hắt ánh đỏ lên những khuôn mặt. Bên ngoài vòng sáng mờ của Tiểu Tuế Trận, sương muối trắng xóa. Bên trong thì không.

Không ai nhúc nhích.

Rồi con Ớt bước ra. Nó mười ba tuổi, mặt vẫn hơi xanh từ mùa xuân, hai cái răng cửa to. Nó đi sang bên phải, đứng đó một mình.

– Cháu ngủ. – Nó nói. – Cháu mất nhiều nhất mà.

Rồi con Riềng chạy theo chị. Rồi Bổng. Rồi thằng Tẹo, nắm vạt áo Bổng. Rồi cô Hoa dãy Một, mười hai năm tầng ba. Rồi một đứa, mười đứa, ba mươi đứa.

Con Mơ giơ tay lên.

– Ông ơi. – Nó gọi trưởng lão Mông như gọi một ông già trong xóm. – Thế cháu ngủ giường cuối dãy Một hay giường thứ ba dãy Tư? Đêm đầu cháu ngủ ở dãy Tư mà.

Trưởng lão Mông nhìn nó. Cốc thấy khóe miệng ông động đậy, như người không quen cười.

– Giường của cháu. – Ông nói. – Cái nào nó lấy của cháu nhiều hơn thì cháu ngủ cái ấy.

– Thế thì dãy Tư. – Con Mơ nói, rồi chạy sang bên phải, kéo theo con Lụa con Thắm.

Mận là người cuối cùng. Nó đứng giữa sân một lúc lâu, nhìn hai bên. Rồi nó đi sang bên phải.

– Của tớ thì tớ lấy về đã. – Nó nói với Cốc khi đi ngang qua cậu. – Rồi tớ mới đi.

Không còn ai đứng bên trái.

Ông Bá Hiền đứng ở hiên dãy Một, cái đèn lồng giấy dầu chưa thắp trong tay. Từ đầu buổi tới giờ ông không nói câu nào. Giờ ông bước ra.

– Đêm nay các cháu ngủ cho ngon. – Ông nói. Giọng ông tròn, ấm, như hát ru. – Ngủ ngon thì...

Ông dừng lại. Ông đứng giữa sân, cái miệng còn mở, như người quên mất đoạn cuối của một bài hát đã hát sáu mươi năm.

– Thì lúa tốt hả bác? – Con Mơ nói to từ giữa đám trẻ.

Ông Bá Hiền nhìn nó.

– Không. – Ông nói. – Đêm nay ngủ ngon thì người tốt.

Giờ Hợi, Bổng cõng bà Yên đi vào lối chở mạ sau bếp lò thứ ba.

Kiều Vọng ở lại dãy nhà Lúa với trưởng lão Mông. Họ đi dọc bốn dãy, rút từng cái chiếu đất ra khỏi giường, để bọn trẻ nằm thẳng lên ván lim, rồi đứng ở cửa, không cho ai lại gần. Cốc đi trước, cầm nến mỡ.

Bổng không cầm nến. Nó cõng bà Yên trên lưng, hai tay vòng ra sau đỡ, bước đều trong đường hầm tối, chân đạp đúng vào hai vệt bánh xe sâu.

– Mày soi đường cho bà đi. – Nó nói với Cốc. – Tao không cần.

– Mày nhớ đường à?

– Tao không đọc được cái bản đồ ông Mông vẽ. – Bổng nói, thở hổn hển. – Tao không biết chữ. Tao đi bằng mũi. Mùi thóc ngâm ở đoạn này. Mùi rơm ủ ở đoạn kia. Tới chỗ có mùi đất sét ướt là tới hang.

Cốc không nói gì một lúc.

– Tao biết từ tháng Ba. – Cậu nói. – Hôm mày nhờ tao đọc tấm bảng điểm danh.

– Sao mày không nói?

– Mày không nói thì tao không nói.

Trên lưng Bổng, bà Yên khẽ cười. Một tiếng khan, ngắn. Lần đầu tiên Cốc nghe bà cười mà không có gì để mỉa.

Hang Mạ tối. Những đường khắc trên nền hang sáng đục như nước bùn, và chúng không còn nằm yên. Chúng rung. Cốc cảm thấy điều ấy qua đế dép cỏ, một rung động rất nhỏ, đều, như mặt nồi cháo sắp sôi.

Cánh cửa đá ở cuối hang đóng.

Ông Bá Hiền đã đứng chờ ở đó, cái đèn lồng giờ đã thắp. Ông đặt lòng bàn tay phải lên giữa cánh cửa. Lần này Cốc đứng đủ gần để nghe câu ông nói khẽ.

– Ngủ ngon thì lúa tốt.

Cánh cửa lùi vào vách, trượt sang bên.

Cốc đứng sững. Câu ấy. Đêm nào ông cũng nói câu ấy với từng đứa, với cây cột cái, với lúa. Sáu mươi năm, câu ấy là cái chìa khóa.

– Thầy bác đặt. – Ông Bá Hiền nói, như hiểu cái nhìn của cậu. – Thầy bác bảo câu mở cửa phải là câu mình nói hằng ngày, để không bao giờ quên. Bác nói nó sáu mươi năm. Bác chưa quên ngày nào.

Gian đá tròn mở ra. Khối lõi xám trên bệ giờ đã nứt. Những đường nứt chân chim chạy khắp mặt nó, mảnh như sợi tóc, và qua những khe nứt ấy có ánh sáng xanh trắng rỉ ra, như nước rỉ qua một cái vại sành.

Bổng đặt bà Yên xuống bậc đá trước cửa gian. Bà chống gậy đứng dậy, đi vào trong, đứng trước bệ đá, ngẩng lên nhìn cái dấu năm khía trên vách.

– Mày ra ngồi chỗ đường gom. – Bà nói với Cốc, không quay lại. – Cách cửa mười bước. Chỗ những đường khắc to nhất chạy ra khỏi gian này, trước khi chúng tách lên dốc. Úp hai tay lên đường to nhất. Thằng béo ra đứng ở cửa lối chở mạ, cầm nến. Thằng Hiền đi đâu thì đi.

– Hiền ở đây. – Ông Bá Hiền nói.

Cốc ngồi xuống nền hang. Đường khắc to nhất ở đây rộng bằng cổ tay cậu, lạnh, rung. Cậu cởi dép, úp hai lòng bàn tay lên nó.

Thổ dâng lên từ lòng đất dưới bàn tay cậu, nặng, chậm. Và qua cái đường khắc lạnh ngắt ấy, cậu cảm thấy cả cái trận. Bốn dãy nhà trên kia. Một trăm mười bảy cái giường. Một trăm mười bảy cái nắp đang hé ra trong giấc ngủ. Và những đường khắc từ đó chạy xuống, gom về đây, chạy qua dưới bàn tay cậu, vào cái lõi đã nứt.

Từ Đại điện, tiếng trống vọng xuống qua khe đá trên trần hang. Canh ba.

Bà Yên đặt lòng bàn tay lên cái dấu năm khía.

Cái dấu sáng lên. Không xanh trắng như lõi. Vàng. Vàng như ánh một ngọn đèn sắp hết dầu, như cái ánh Cốc đã thấy quanh người chưởng môn ở hậu điện. Ánh vàng ấy chạy từ lòng bàn tay bà vào cái dấu, từ cái dấu chạy xuống vách, xuống bệ, quấn quanh khối lõi nứt.

Rồi khối lõi bắt đầu trả.

Cốc cảm thấy nó trước khi thấy. Dưới hai bàn tay cậu, cái đường khắc đang chảy ngược. Không còn chảy về phía lõi. Chảy ra. Chậm, rồi nhanh dần, như nước ở cửa cống vừa nhấc tấm phai. Lạnh. Rồi không lạnh nữa. Ấm. Ấm như hơi thở của một trăm mười bảy đứa trẻ.

Nhanh quá.

Cậu biết ngay. Như cha biết khi nhìn mặt nước ruộng trũng dâng lên quá một ngón tay. Nó chảy nhanh quá. Mấy đường khắc gần cây cột cái ở dãy Tư, đường mới, khắc từ tháng Năm, chưa quen, chúng rung lên như dây đàn bị gảy mạnh. Cậu ấn hai bàn tay xuống. Cậu gọi Thổ. Không phải để giữ lại. Để đắp. Như đắp thêm một lượt bùn lên miệng cống cho nước chảy qua khe hẹp hơn.

Dòng ấm chậm lại dưới tay cậu.

Rồi cậu mở. Một tấc. Nghe. Đường nào đã nhận đủ thì chặn bớt, đường nào còn thiếu thì mở thêm. Dãy Một. Dãy Hai, giường ba, giường mười ba. Dãy Ba, giường mười một, cái giường không có ai nằm, khí chảy tới đó rồi dừng, không có ai để nhận, cậu phải chặn nó lại, đổi sang đường bên cạnh. Dãy Tư, giường thứ ba tính từ cây cột cái.

Và cái đường to nhất từ dãy Tư chạy xuống dốc, chạy ngầm dưới khúc bờ đá phía đông, chỗ bờ cao nhất, chỗ con đường lát đá từ cổng sơn môn đi lên. Ở đó, đất dưới đường khắc rỗng. Cậu cảm thấy cái rỗng ấy như cảm thấy một cái hang chuột dưới chân bờ ruộng. Sáu mươi năm cái trận uống qua chỗ ấy, kéo theo nước, kéo theo đất, từng chút, từng chút. Bờ ấy hay sụt nhất, chú Ba Trấu bảo. Hai năm trước có một người làm thuê ngã ở đấy.

Cậu dồn Thổ vào chỗ ấy. Nặng, chậm, dày, như cha nện từng nắm bùn bằng mu bàn tay.

Có tiếng chân ở cửa lớn của hang.

Tiếng chân trần trên đá. Rồi một luồng gió ấm thổi vào hang, ấm như gió nồm tháng Hai, mang theo mùi hoa đào. Những khay mạ vụ xuân mới gieo ở cuối hang, chưa nhú, nứt hạt, lá mạ non vươn lên, xanh rực trong bóng tối.

Ông Bá Hiền quay người lại. Ông đặt cái đèn lồng xuống đất, đi ra giữa hang, đứng chắn giữa hai dãy giàn tre trống.

– Đây là ruộng của bác. – Ông nói.

Cốc không nhìn được. Cậu không dám nhấc tay khỏi đường khắc. Cậu chỉ nghe. Tiếng đất dưới nền hang bật lên, như có ai xới tung một luống cày. Tiếng gió ấm rít qua giàn tre. Tiếng tre gãy. Một ánh sáng vàng đục của đất, một ánh sáng hồng nhạt như hoa đào, va vào nhau, chớp lên trên trần hang. Tiếng một cái gì đó rất nặng ngã xuống những giàn khay trống.

Tiếng nan tre gãy rắc. Cái đèn lồng giấy dầu. Lửa liếm vào đống rơm lót lối đi.

– Bổng!

Bổng chạy từ cửa lối chở mạ ra. Cốc nghe tiếng nó giậm chân lên rơm, giậm, giậm, như giậm lúa, rồi tiếng nó đổ cả bầu nước lên. Lửa tắt. Khói mù mịt.

Tiếng chân trần đi tiếp, chậm, đều, qua chỗ Cốc ngồi. Cậu thấy đôi bàn chân già nua, gầy guộc ấy dừng lại ở cửa gian đá tròn.

Tôn Hoài Cẩn đứng đó, nhìn vào.

Bà Yên vẫn đứng trước bệ đá, lòng bàn tay áp lên cái dấu năm khía. Ánh vàng từ tay bà chảy vào cái dấu, đều đều, như dầu chảy vào bấc. Quanh người bà, cái ánh vàng mờ ấy mỗi lúc một mỏng đi. Cốc thấy được vai bà qua nó. Thấy được những sợi tóc trắng.

– Thầy sẽ mất hết. – Tôn nói. Giọng ông nhỏ.

– Ừ.

– Con có thể giữ cái trận này thay thầy. Con Nguyên Anh. Con giữ được.

– Mày giữ thì nó thành của mày. – Bà Yên nói. – Lần này để thầy làm cho xong một việc.

Tôn đứng im. Ông không bước vào. Ông không đưa tay lên. Ông đứng ở cửa gian đá, như trưởng lão Mông đứng ở cửa dãy Ba ba mươi năm, nhìn.

Từ Đại điện, tiếng trống giao thừa vọng xuống. Mười hai tiếng. Chậm. Trầm.

Ở tiếng thứ mười hai, dòng ấm dưới tay Cốc chảy những giọt cuối cùng. Rồi dừng.

Khối lõi trên bệ không còn xám. Nó trong như nước, trong tới mức Cốc nhìn thấy cái bệ đá qua nó. Rồi nó vỡ ra. Không có tiếng. Nó rã xuống thành một đống cát trắng mịn trên mặt bệ, như muối.

Những đường khắc quấn quanh bệ tắt. Rồi những đường trên nền gian đá tắt. Rồi đường to nhất dưới hai bàn tay Cốc tắt. Rồi những đường chạy dọc nền hang, chạy lên dốc, tắt dần, từng đoạn, như những ngọn đèn trên một con đường bị ai thổi tắt từ đầu này tới đầu kia.

Trên vách đá, cái dấu năm khía nứt ra một đường, chạy ngang qua vòng tròn.

Bà Yên ngã.

Cốc buông tay khỏi nền hang, chạy vào, đỡ được bà trước khi bà chạm đất. Người bà nhẹ như một bó rơm khô. Cái ánh vàng quanh người bà không còn nữa. Không còn chút nào.

Bà mở mắt. Mắt bà nhỏ, sâu, nhưng không còn cái tinh của người quen nhìn những thứ ở rất xa. Chỉ còn là mắt của một bà già.

– Xong chưa? – Bà hỏi.

– Xong rồi, sư phụ.

Bà nhắm mắt lại. Một lúc lâu, Cốc tưởng bà đã ngủ.

– Mười hai ngày nữa là Lập Xuân. – Bà nói, rất khẽ. – Cạnh Mộc của mày...

Rồi bà ngủ thật, trong tay cậu, thở đều, như người phàm.

— Hết chương 34 —

Mục lục Con quay năm màu

  1. 1Đá xám9 phút
  2. 2Dãy nhà Lúa10 phút đọc
  3. 3Bóng nắng trưa11 phút đọc
  4. 4Hướng đông lúc rạng sáng10 phút đọc
  5. 5Lễ cấy ở tầng bảy10 phút đọc
  6. 6Năm hành không cãi nhau10 phút đọc
  7. 7Chợ phiên Gò Mạ10 phút đọc
  8. 8Điểm danh canh hai10 phút đọc
  9. 9Trận dưới sàn10 phút đọc
  10. 10Chiếu đất10 phút đọc
  11. 11Lịch Đài thí10 phút đọc
  12. 12Ngày giao mùa11 phút đọc
  13. 13Chú Ba Trấu11 phút đọc
  14. 14Lửa trên tầng bảy10 phút đọc
  15. 15Thư nhà10 phút đọc
  16. 16Lửa dưới ván sàn10 phút đọc
  17. 17Cái tủ gỗ ở Chấp Pháp đường10 phút đọc
  18. 18Đêm Hạ chí ở Hang Mạ12 phút đọc
  19. 19Dấu ở chân cột đồng12 phút đọc
  20. 20Mùa không chờ10 phút đọc
  21. 21Chiếu đất thứ mười hai10 phút đọc
  22. 22Người kể chuyện cho bác Hiền10 phút đọc
  23. 23Lập Thu12 phút đọc
  24. 24Trưởng lão xuống núi10 phút đọc
  25. 25Gió heo may10 phút đọc
  26. 26Ấn của chưởng môn10 phút đọc
  27. 27Gặt vụ mùa10 phút đọc
  28. 28Thổ cuối thu10 phút đọc
  29. 29Vô Niên10 phút đọc
  30. 30Thầy và trò cũ10 phút đọc
  31. 31Bốn mươi chín ngày10 phút đọc
  32. 32Đông chí10 phút đọc
  33. 33Tháng Chạp10 phút đọc
  34. 34Giao thừa11 phút đọc
  35. 35Con quay giữa trận giả10 phút đọc
  36. 36Lập Xuân10 phút đọc

Về truyện này

Con quay năm màu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →