AI Truyện
Con quay năm màu

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Chú Ba Trấu

Con quay năm màu · Chương 13/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Chú Ba Trấu

Đêm mồng năm tháng Tư, Cốc trèo qua cửa sổ sau của dãy Hai với cái chiếu đất cuộn trong bao tải, và rơi đúng vào cái chậu nước rửa chân của Bổng.

Nước bắn tung tóe. Cái chậu thau lăn kêu loảng xoảng. Ở giường số chín có đứa ngồi bật dậy, ú ớ hỏi ai đấy. Cốc nằm bẹp dưới gầm giường mười ba, nín thở. Bổng thò đầu ra khỏi chăn, nhìn xuống, rồi nói to, giọng ngái ngủ rất thật:

– Chuột. Chuột to lắm. Ngủ đi.

Đứa ở giường số chín lầm bầm rồi nằm xuống.

Cốc bò ra, ướt từ đầu gối trở xuống. Cậu không nói gì. Cậu cởi bao tải, rút cái chiếu đất ra, vén chiếu cói trên giường Bổng lên, trải nó xuống bên dưới, vuốt cho phẳng.

– Mày làm cái gì thế? – Bổng thì thầm.

– Tao hứa rồi.

– Thế còn mày? Bên ấy...

– Bên ngoại môn không có. – Cốc nói. – Tao thử rồi.

Cậu đã thử ngay chiều hôm qua, lúc vừa dọn vào phòng mới. Cậu đặt con quay xuống nền gạch, giật dây. Nó chạy vo vo tại chỗ, chạy cho tới khi hết đà, rồi chao chao, rồi đổ xuống, lăn một vòng, mũi đinh chĩa về phía bức tường. Lần thứ hai nó đổ chĩa về phía cửa. Lần thứ ba về phía cái giường. Chẳng đi đâu cả. Chẳng có ai nằm dưới nền mà kéo nó.

Bổng nằm xuống trên cái chiếu đất. Nó nằm im một lúc, rồi cười khúc khích.

– Mát.

Phòng ngoại môn của Cốc ở chung với một sư huynh tên là Giang Bình.

Giang Bình mười chín tuổi, ngoại môn tầng sáu, gầy, cao, đeo một cặp kính mắt gọng đồng mà người ta bảo là một món pháp khí rẻ tiền giúp đọc chữ nhỏ trong bóng tối. Anh ít nói, nói thì nói nhỏ, và lúc nào cũng có một cuốn sách địa chí mở trên bàn. Hôm đầu tiên thấy Cốc khiêng đồ vào, anh chỉ đứng dậy dọn bớt sách trên cái giường thứ hai, rồi hỏi một câu duy nhất:

– Đệ có ngáy không?

– Dạ, chắc không.

– Tốt. – Anh nói, rồi ngồi đọc tiếp.

Đệ tử ngoại môn được phát một thanh kiếm sắt tinh, hai bộ áo xanh, mười viên linh thạch mỗi tháng. Sáng thì lên Truyền Công đường học kiếm pháp nhập môn và học chữ. Chiều thì làm việc tông môn giao: canh rừng, sửa đường, vận chuyển. Không phải làm ruộng. Cốc nhận mười viên linh thạch đầu tiên vào ngày mồng năm, và việc đầu tiên cậu làm là nhờ người gánh hàng xuống chợ Gò Mạ mang về cho u năm viên.

Mùa Hỏa đã tới.

Bà Yên dạy cậu đổi cách ngồi. Không phải rạng sáng nữa. Giữa trưa. Không phải hướng đông. Hướng nam. Không phải chạm cây, không phải chạm đất, mà là phơi. Phơi lưng ra nắng, phơi lòng bàn tay ra nắng, ngồi ở chỗ nắng gắt nhất, mặt quay về phía mặt trời đang đứng.

– Như phơi thóc. – Bà nói. – Thóc phơi đủ nắng thì giã ra gạo trong. Phơi không đủ thì gạo mốc.

Cốc chọn mỏm đá nhô ra vực trên đường lên Đỉnh Gió, chỗ cậu từng thấy Kiều Vọng luyện kiếm. Giữa trưa, đá nóng tới mức không đặt tay lên được. Cậu ngồi đó, lưỡi chạm vòm miệng, và khí đỏ tới, đều đều, ấm như than ủ, từ giữa ngực lan ra. Nó tới nhanh hơn khí Mộc, mạnh hơn khí Thổ. Có hôm cậu ngồi được nửa canh giờ thì phải đứng dậy vì cả người nóng như lên cơn sốt.

– Đừng tham. – Bà Yên dặn. – Hỏa dễ lên mà cũng dễ cháy. Cháy là cháy cả cái mày đã có. Ngồi tới lúc thấy khát thì thôi.

Những buổi tối, Cốc về dãy nhà Lúa.

Ngoại môn được đi lại khắp núi. Không ai cấm cậu xuống dãy Hai ngồi chơi với Bổng, với Mận. Nhưng cậu xuống không phải chỉ để ngồi chơi. Cậu xuống vì chú Ba Trấu.

Chú yếu đi từ sau lễ cấy. Chú vẫn ra ruộng, nhưng đi chậm, cứ vài bước lại phải dừng, chống tay lên đầu gối mà ho. Sang tháng Tư thì chú không ra ruộng nữa. Chú nằm trên cái giường cuối dãy Hai, sát vách, cái giường chú đã nằm bốn mươi mốt năm. Ông Bá Hiền cho người mang cháo tới tận giường, mang thuốc, mang chăn bông. Ông còn tự tay mang tới một bát canh gà ác.

Tối mười hai tháng Tư, Cốc ngồi bên giường chú.

Chú Ba Trấu nằm nghiêng, quay mặt ra phía cậu, đắp tấm chăn bông của Ông Bá Hiền tới tận cằm. Mặt chú hõm vào, hai gò má nhô ra, da xám như vỏ cây khô. Nhưng mắt chú vẫn còn tinh, và chú nhìn Cốc như người ta nhìn một thằng cháu đi xa về.

– Thằng con quay. – Chú nói, giọng khàn tới mức chỉ còn hơi. – Cả núi gọi mày thế rồi đấy.

– Dạ.

– Tao xem mày đánh. Mày đứng như cái cọc bờ. – Chú cười, rồi ho. – Hồi tao mới lên đây, tao cũng tưởng tao sẽ lên được ngoại môn.

– Chú lên đây năm bao nhiêu tuổi?

– Mười bảy. – Chú nhắm mắt lại một lúc. – Bốn mươi mốt năm. Tao ngủ trên cái giường này bốn mươi mốt năm. Tao chẳng tiếc gì. Có cơm ăn. Có chỗ ngủ. Mẹ tao chết không phải đói. Em tao lấy chồng có của hồi môn.

Cốc nhìn xuống tấm ván sàn dưới giường chú. Chú nằm sát vách, xa cây cột cái nhất dãy. Có lẽ vì thế mà chú sống được tới giờ.

– Bốn mươi mốt năm, chú có thấy ai... – Cốc ngập ngừng. – Có ai ngủ ở đây rồi yếu đi như chú không?

Chú Ba Trấu mở mắt.

– Nhiều. – Chú nói. – Nhiều lắm. Năm nào cũng có. Đứa thì xuống núi. Đứa thì nằm lại ngoài kia.

Chú hất cằm về phía cửa sổ, về phía sườn bắc, nơi có một bãi đất nhỏ cắm những tấm bia đá không chữ.

– Có cô Lan. – Chú nói, giọng chậm lại như đang lần trong trí nhớ. – Mông Thị Lan. Dãy Ba, giường mười một. Ba mươi năm trước. Cô ấy hiền, hát hay, đêm nào cũng hát ru cho bọn nhỏ mới lên ngủ. Ba mươi tám tuổi thì cô ấy ngủ một giấc không dậy nữa. Mày biết em ai không?

Cốc lắc đầu.

– Em gái ông Chấp Pháp. Ông Mông ấy. – Chú Ba Trấu nói. – Hồi ấy ông ấy đi việc tông môn tận bên kia núi, nửa năm mới về. Về thì cô ấy đã chôn rồi. Đêm ấy ông ấy đứng ở cửa dãy Ba từ tối tới sáng. Không vào. Không nói gì. Cứ đứng thế. Tao đi tiểu đêm, thấy ông ấy đứng. Gần sáng đi tiểu, vẫn thấy ông ấy đứng.

Cốc ngồi im. Cậu nhớ cái giọng khô khốc của trưởng lão Mông ở bờ ruộng tầng bảy: năm nay là đứa thứ mấy rồi.

– Còn một người nữa. – Chú Ba Trấu nói. – Sen. Kiều Thị Sen. Dãy Một, giường bảy. Cô ấy ngủ ngon nhất ba dãy nhà. Đặt lưng xuống là ngủ, sấm sét cũng không dậy. Mười chín năm. Ai cũng bảo cô ấy có phúc, ngủ ngon thế thì sống lâu. Thế mà ba mươi sáu tuổi thì cạn. Cạn như cái giếng mùa hạn. Bác Hiền khóc mãi. Bác cho người khiêng cô ấy xuống tận làng, cho cả tiền thuốc. Xuống được ba tháng thì mất.

– Cô ấy có con không ạ?

– Có một thằng con trai. Hồi đó nó mới chín tuổi, ở dưới làng với bà ngoại, tháng nào cũng lên cổng sơn môn đứng đợi mẹ. Mẹ nó xuống núi rồi mất, năm sau nó lên thử căn, sáng đỏ rực cả cái đá. Thiên linh căn đấy. – Chú Ba Trấu lại ho, ho lâu, Cốc phải đỡ chú ngồi dậy cho dễ thở. Ho xong, chú nằm xuống, thở dốc. – Giờ nó ở nội môn. Thằng bé họ Kiều. Hôm lễ cấy cầm kiếm đốt nước ấy.

Cốc không nói được gì.

Kiều Vọng. Củi tốt. Ruộng ấm rồi đấy, ai nuôi lúa ngươi biết không. Củi khô thì mới cháy đều. Thắng thì ngươi sẽ biết củi cháy ra sao.

Cậu nhớ cái bóng áo lam đứng một mình trong bóng tối ở đầu hồi dãy nhà Lúa, đêm trước Đài thí.

– Nó chẳng bao giờ xuống đây. – Chú Ba Trấu nói, như đọc được ý cậu. – Nó ghét chỗ này. Ghét bọn tao. Tao không trách. Mẹ nó chọn ở lại đây thay vì xuống làng với nó. Nó chín tuổi, nó hiểu gì.

Sáng hôm sau, Cốc leo lên Đỉnh Gió sớm.

– Sư phụ vẽ cho con một cái chiếu nữa.

Bà Yên đang cúi nhìn thước đá. Bà không ngẩng lên.

– Cho ai?

– Cho chú Ba Trấu.

Bà Yên đứng thẳng dậy. Bà nhìn cậu. Lần này cậu không nói dối, và bà biết cậu không nói dối.

– Thằng Trấu bốn mươi mốt năm rồi. – Bà nói. – Một cái chiếu bây giờ không cứu được nó.

– Con biết.

– Thế mày đan làm gì?

Cốc không trả lời được. Cậu chỉ đứng đó. Một lúc lâu, bà Yên quay đi, vào nhà gỗ, rồi đi ra với thùng đất sét cũ đã khô cứng, đổ nước khe vào, lấy tay khuấy.

– Đan đi. – Bà nói. – Đan nhanh lên.

Cậu đan mất bốn tối, vì ban ngày còn phải học kiếm, phải đi canh rừng, và vì rơm linh mễ trong kho sau Bếp Lớn đã gần hết, cậu phải đi nhặt từng bó rơm vụn ở góc kho. Bà Yên vẽ đường đất lên mép chiếu, vẫn một mạch, không nhấc tay. Tối mười chín tháng Tư, cậu mang cái chiếu xuống.

Chú Ba Trấu đã không còn ngồi dậy được nữa.

Cốc và Bổng nhẹ nhàng nâng chú lên. Chú nhẹ như một bó rơm. Mận trải cái chiếu đất xuống tấm phản, vuốt phẳng, trải chiếu cói lên trên. Họ đặt chú nằm xuống.

Chú Ba Trấu nhìn Cốc. Chú không hỏi cái chiếu ấy là gì. Có thể chú không còn sức để hỏi. Có thể chú đã biết.

– Mát. – Chú nói. Như Bổng đã nói.

Cốc ngồi lại bên giường chú suốt đêm. Bổng ngồi một lúc rồi ngủ gục bên cạnh. Mận ngồi tới canh ba thì đi về giường, đi chậm, ngoái lại mấy lần. Gần canh tư, có tiếng guốc gỗ ngoài sân. Ông Bá Hiền vào, xách đèn lồng, đi thẳng tới giường cuối dãy. Ông nhìn chú Ba Trấu, nhìn Cốc, không nói gì. Ông đặt tay lên trán chú một lúc lâu. Rồi ông ngồi xuống cái ghế đẩu ở chân giường, đặt đèn xuống đất, và ngồi đó với cậu.

Hai người ngồi như thế, không ai nói, nghe tiếng thở của chú Ba Trấu mỗi lúc một thưa.

Chú mất lúc gà gáy lần hai, đúng giờ mà bốn mươi mốt năm nay chú vẫn dậy ra ruộng.

Đám tang làm chiều hôm ấy, hai mươi tháng Tư, ở bãi đất nhỏ trên sườn bắc. Gần sáu mươi tạp dịch đứng quanh cái huyệt đất mới. Mấy đứa con gái khóc. Bổng khóc to nhất. Người ta khiêng chú Ba Trấu xuống bằng một cái cáng tre, chú quấn trong cái chiếu cói của chú, bên dưới vẫn là cái chiếu đất Cốc đan, vì Cốc đã xin được chôn chú cùng nó.

Trưởng lão Mông có tới. Ông đứng ở xa, dưới một gốc thông, hai tay chắp sau lưng, không lại gần. Khi đất bắt đầu lấp, ông quay đi.

Ông Bá Hiền đứng sát mép huyệt.

Ông khóc. Không phải khóc như người ta khóc ở đám tang cho phải lễ. Ông khóc như người mất người nhà. Nước mắt chảy xuống hai má tròn, chảy xuống cằm, nhỏ xuống vạt áo bào nâu. Ông không lau. Hai tay ông chắp trước ngực, run run. Khi người ta đặt tấm bia đá không chữ lên đầu mộ, ông cúi xuống, tự tay vun thêm một nắm đất ở chân bia.

Rồi mọi người về hết. Trời nhá nhem. Cốc đi tới khúc quanh của con đường, ngoái lại.

Ông Bá Hiền vẫn đứng đó, một mình, bên ngôi mộ mới, cái bóng tròn của ông in đen lên nền trời màu tro. Ông đứng chắp tay, đứng lâu như trưởng lão Mông đã đứng ở cửa dãy Ba ba mươi năm trước.

— Hết chương 13 —

Mục lục Con quay năm màu

  1. 1Đá xám9 phút
  2. 2Dãy nhà Lúa10 phút đọc
  3. 3Bóng nắng trưa11 phút đọc
  4. 4Hướng đông lúc rạng sáng10 phút đọc
  5. 5Lễ cấy ở tầng bảy10 phút đọc
  6. 6Năm hành không cãi nhau10 phút đọc
  7. 7Chợ phiên Gò Mạ10 phút đọc
  8. 8Điểm danh canh hai10 phút đọc
  9. 9Trận dưới sàn10 phút đọc
  10. 10Chiếu đất10 phút đọc
  11. 11Lịch Đài thí10 phút đọc
  12. 12Ngày giao mùa11 phút đọc
  13. 13Chú Ba Trấu11 phút đọc
  14. 14Lửa trên tầng bảy10 phút đọc
  15. 15Thư nhà10 phút đọc
  16. 16Lửa dưới ván sàn10 phút đọc
  17. 17Cái tủ gỗ ở Chấp Pháp đường10 phút đọc
  18. 18Đêm Hạ chí ở Hang Mạ12 phút đọc
  19. 19Dấu ở chân cột đồng12 phút đọc
  20. 20Mùa không chờ10 phút đọc
  21. 21Chiếu đất thứ mười hai10 phút đọc
  22. 22Người kể chuyện cho bác Hiền10 phút đọc
  23. 23Lập Thu12 phút đọc
  24. 24Trưởng lão xuống núi10 phút đọc
  25. 25Gió heo may10 phút đọc
  26. 26Ấn của chưởng môn10 phút đọc
  27. 27Gặt vụ mùa10 phút đọc
  28. 28Thổ cuối thu10 phút đọc
  29. 29Vô Niên10 phút đọc
  30. 30Thầy và trò cũ10 phút đọc
  31. 31Bốn mươi chín ngày10 phút đọc
  32. 32Đông chí10 phút đọc
  33. 33Tháng Chạp10 phút đọc
  34. 34Giao thừa11 phút đọc
  35. 35Con quay giữa trận giả10 phút đọc
  36. 36Lập Xuân10 phút đọc

Về truyện này

Con quay năm màu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →