Chương 1: Đá xám
Con quay lăn khỏi túi áo Cốc đúng lúc ông chấp sự gọi tên cậu.
– Đàm Cốc, làng Gò Mạ!
Nó rơi xuống mặt sân đá, nảy một cái, rồi lăn. Cái đầu đinh sắt mài nhọn cào lên đá một tiếng ken két nhỏ, đủ để mười mấy đứa đứng gần quay lại nhìn. Cốc cúi xuống chộp, chộp hụt. Con quay lăn qua chân một thằng bé áo nâu, qua chân một con bé tết tóc, rồi dừng lại cạnh một đôi ủng da đen bóng.
Người đi đôi ủng ấy cúi xuống nhặt nó lên.
Đó là một thiếu niên chừng mười bảy tuổi, áo bào lam viền chỉ đỏ của đệ tử nội môn, đứng ngay sau lưng vị trưởng lão mặt dài đang ngồi cạnh khối đá thử. Hắn lật con quay trong lòng bàn tay, nhìn năm múi màu sơn bằng nghệ, bằng gấc, bằng lá chàm, bằng nhọ nồi và bằng vôi, đã bạc đi nhiều chỗ.
– Của ngươi à?
– Dạ. – Cốc đứng thẳng lại. – Anh cho tôi xin.
Thiếu niên không trả. Hắn đặt con quay lên đầu ngón tay trỏ, búng nhẹ một cái. Nó quay. Không có dây, không có tay ai giật, vậy mà nó quay trên đầu ngón tay hắn, nhanh dần, và từ chỗ ngón tay chạm vào đầu đinh bốc lên một sợi khói mảnh. Mùi gỗ mít cháy. Năm màu nhòa lại thành một vòng, rồi một chỗ trong vòng ấy đỏ rực lên như than được thổi.
Sân đá cười. Không phải cười to. Cái kiểu cười của những đứa trẻ con nhà khá giả đứng hàng đầu, những đứa vừa đặt tay lên đá thử mà đá sáng.
– Kiều Vọng. – Vị trưởng lão mặt dài lên tiếng, không quay lại. – Đủ rồi.
Con quay dừng. Kiều Vọng ném nó trả lại cho Cốc, một đường cong thấp. Cốc bắt được. Gỗ nóng ran trong lòng tay cậu. Múi đỏ, cái múi cha sơn bằng nước gấc đun đặc, giờ có một vệt cháy xém đen to bằng móng tay cái.
Cốc nhét con quay vào túi áo trái, cài cúc lại, rồi bước lên.
Khối đá thử đặt giữa sân, trên một cái bệ thấp. Nó trắng như sứ, to cỡ cái cối giã gạo, mặt trên mài phẳng, có một chỗ lõm vừa một bàn tay. Từ sáng tới giờ Cốc đã đứng xem hơn một trăm đứa đặt tay lên đó. Đá sáng đỏ thì người ta reo. Đá sáng hai màu xanh vàng thì người ta gật đầu. Đá không sáng gì cả thì đứa trẻ ấy được dắt ra cổng, cha mẹ nó đứng chờ sẵn bên dưới chín mươi bậc đá, có người khóc, có người thở phào vì khỏi mất một đứa làm ruộng.
Cốc thì không biết mình muốn đá sáng hay không sáng. Sáng sớm nay, ở cổng làng, u buộc vào cạp quần cậu một gói cơm nắm muối vừng, rồi đứng nhìn theo cậu với con Mơ cho tới khi qua khỏi cây gạo đầu đê. U không dặn gì. Con Mơ thì dặn nhiều. Nó dặn anh phải sáng màu đỏ, vì màu đỏ là màu đẹp nhất.
Cậu đặt tay vào chỗ lõm.
Đá lạnh. Một lúc không có gì xảy ra. Rồi từ dưới bàn tay cậu, có thứ gì đó loang ra như mực nhỏ vào bát nước. Không phải đỏ, không phải xanh. Nó đục. Nó lan khắp khối đá, đều đều, chậm, thành một màu xám như nước vo gạo để qua đêm, như tro bếp nguội.
Sân đá im. Rồi có đứa nào đó phì cười.
– Đá xám!
Lần này người ta cười to. Ông chấp sự ghi chép cúi sát xuống mặt đá, nheo mắt, lấy ngón tay gõ gõ vào cạnh. Ông nhìn kỹ lắm, như người mua lúa nhìn hạt thóc lép.
– Năm màu đều có. Đều nhau. Đều yếu. – Ông đọc to, rồi quay sang vị trưởng lão mặt dài. – Bẩm trưởng lão Chấp Pháp, tạp linh căn, loại không có màu trội. Đệ tử ghi thế nào ạ?
Vị trưởng lão mặt dài ngồi yên. Ông khoảng năm mươi tuổi nếu nhìn mặt, tóc hai bên thái dương đã muối tiêu, hai tay chắp sau lưng ngay cả khi ngồi. Cốc nghe người ta xì xào gọi ông là trưởng lão Mông. Ông nhìn khối đá xám một lúc lâu hơn Cốc tưởng, lâu hơn ông đã nhìn bất cứ khối đá đỏ rực nào từ sáng tới giờ.
– Ghi tạp dịch. – Ông nói. – Dãy nhà Lúa.
– Tạp dịch? – Kiều Vọng đứng sau, nói không to không nhỏ. – Đá xám thì củi tốt.
Vài đứa hàng đầu lại cười. Cốc rút tay khỏi đá. Màu xám tan dần, rút về phía chỗ lõm, như nước rút khỏi ruộng khi người ta tháo bờ. Lòng tay cậu còn hơi tê.
Cậu không hiểu "củi tốt" là gì. Nhưng cậu hiểu giọng nói ấy.
– Ấy, ấy, đứa nào cũng là người cả. – Một giọng khác vang lên, ấm và tròn như tiếng mõ gỗ mít.
Một ông già bước ra từ hàng ghế các trưởng lão. Ông thấp, bụng tròn, mặc áo bào nâu đất cũ, ống tay xắn tới khuỷu, cổ tay còn dính một vệt bùn khô như vừa ở dưới ruộng lên. Ông đi thẳng tới chỗ Cốc, cầm lấy bàn tay vừa đặt lên đá của cậu, lật ngửa ra, nhìn những chỗ chai ở gốc ngón.
– Tay này cấy lúa rồi. Cháu cấy được bao nhiêu mạ một buổi?
– Dạ, hai sào. – Cốc nói. – Nếu ruộng không có đỉa.
Ông già cười khà khà, cười tới mức cái bụng rung lên. Ông móc trong túi áo ra một cái bánh giầy gói lá chuối, còn ấm, dúi vào tay Cốc.
– Ăn đi. Bác là Ông Bá Hiền, coi ruộng cho tông môn. Ruộng linh mễ nhà mình bảy tầng, lúa nhiều hơn người. Lúa cần người, cháu ạ. Lên đây có cơm ăn, có giường ngủ, mỗi tháng ba viên linh thạch gửi về cho u. Không kém ai đâu.
Ông vỗ vai cậu hai cái rồi quay lại ghế. Lúc đi qua trưởng lão Mông, ông khẽ cúi đầu chào. Trưởng lão Mông không chào lại.
Cốc bước xuống bệ đá, đứng vào hàng của những đứa bị gọi là tạp dịch. Hàng ấy ngắn lắm, cả cậu là bốn đứa. Ba đứa kia đều có màu loang lổ, đứa đỏ một mảng vàng một mảng, đứa xanh lẫn đen. Chỉ có cậu là xám đều như tro.
Cậu cầm cái bánh giầy trong tay mà không ăn. Cậu thò tay còn lại vào túi áo, sờ con quay. Vệt cháy trên múi đỏ đã nguội, sần sật dưới đầu ngón tay.
Cha khắc con quay ấy năm Cốc lên bảy. Cha cưa một khúc từ cái cành mít to bị bão đánh gãy sau nhà, ngồi dưới hiên gọt ba buổi tối liền. Cái đầu nhọn là một cây đinh đóng xuồng, cha mài trên đá mài dao cho tới khi nó sáng loáng. Rồi cha chia mặt gỗ thành năm múi, sơn từng múi bằng thứ màu nhà có. Vàng là nghệ giã. Đỏ là gấc đun. Xanh là lá chàm ngâm. Đen là nhọ nồi trộn dầu lạc. Trắng là vôi tôi. Con Mơ hồi đó còn bò, cứ đòi bốc con quay bỏ vào miệng.
Lần đầu cha quay thử, nó chạy trên nền đất nện của sân nhà, năm màu nhòa vào nhau, và Cốc kêu lên vì nó không thành màu nào cả. Nó thành một màu xám nhạt, như khói rơm.
– Năm màu đâu rồi cha?
– Vẫn ở đấy. – Cha nói. – Quay đủ nhanh thì năm màu thành một.
Cha là người coi nước của làng Gò Mạ. Cái nghề ấy không ai trả công bằng tiền, làng góp cho mỗi mùa mấy thúng thóc. Cha biết lúc nào tháo nước cho ruộng trũng, lúc nào đóng cống giữ nước cho ruộng cao, đêm nào có sương muối phải dắt cả nhà ra thả rơm chống rét cho mạ. Cha đếm ngày bằng cách bấm đầu ngón cái lên các đốt ngón tay, và cái thói ấy Cốc học theo từ hồi chưa biết đếm tới mười.
Hai năm trước, vào tháng Bảy, cha nhận làm thuê thời vụ cho tông môn. Đó là việc mà đàn ông làng Gò Mạ vẫn tranh nhau làm, vì công một ngày ở ruộng linh mễ bằng ba ngày ở ruộng làng. Một chiều mưa giông, cha trượt chân trên bờ đá tầng ruộng thứ nhất. Người ta khiêng cha về trên một cái cáng tre. Cha không nói được câu nào nữa.
Cốc nhìn lên. Từ sân đá này, nhìn qua vai mấy đứa đứng trước, cậu thấy được một góc tầng ruộng thứ nhất ở phía dưới sườn đông. Mạ cấy ở đó mới được mươi ngày mà đã xanh đậm, xanh hơn bất cứ ruộng nào cậu từng thấy, kể cả ruộng nhà phú hộ đầu làng có mương nước chảy quanh năm. Bờ đá xếp cao ngang ngực người, rêu phủ mặt ngoài.
Cha từng kể, mấy đêm ở lại canh ruộng cho tông môn, cha ra bờ đi tiểu và thấy dưới mặt nước ruộng tầng một có ánh sáng xanh lờ mờ, như có đom đóm lặn dưới bùn. Cha bảo lúa tiên thì có khác. Hồi ấy Cốc nghe như nghe chuyện cổ tích.
Buổi thử kéo dài tới quá trưa. Khi khối đá được hai người khiêng đi, ông chấp sự đọc tên những đứa được nhận. Bốn mươi hai đứa vào ngoại môn, có ba đứa vào thẳng nội môn. Bốn đứa tạp dịch được đọc tên cuối cùng, đọc nhanh, như người ta đọc nốt mấy món lặt vặt trong sổ chợ.
Ông Bá Hiền tự mình dẫn bốn đứa xuống dãy nhà Lúa. Ông đi trước, xách một cái đèn lồng giấy dầu chưa thắp, vừa đi vừa chỉ.
– Kia là Bếp Lớn. Đói thì xuống, bảo là người của bác Hiền. Kia là Truyền Công đường, hai ngày một buổi các cháu lên đấy học Dẫn Khí Thiên. Kia là Hang Mạ, mùa đông bác ủ mạ trong đó, cấm vào nghịch. Còn đây là nhà.
Dãy nhà Lúa là ba dãy nhà dài, nền đá cao, sàn gỗ lim đen bóng, mái lợp ngói âm dương rêu xanh. Nó nằm ngay trên bờ tầng ruộng thứ nhất, đứng ở hiên là nhìn thấy lúa. Mỗi dãy có một hàng giường gỗ dọc hai bên vách, chính giữa là một cây cột cái to hai người ôm. Cuối dãy có tấm phên nứa ngăn đôi, đầu bên kia là chỗ con gái ngủ.
Ông Bá Hiền đưa Cốc vào dãy Hai, chỉ cái giường thứ mười bốn, cách cột cái ba bước.
– Giường đẹp đấy. Gần cột, mùa đông ấm, mùa hè mát. – Ông vỗ vỗ lên tấm phản. – Ngủ ngon thì lúa tốt, cháu nhớ nhé.
Giường bên cạnh, giường mười ba, có một thằng béo đang ngồi xếp bằng ăn một củ khoai lang to bằng cổ tay. Nó trạc tuổi Cốc, mặt tròn, hai má phúng phính, áo tạp dịch căng ở bụng. Thấy Ông Bá Hiền, nó giấu củ khoai ra sau lưng.
– Bổng. – Ông Bá Hiền nói, không giận. – Bạn mới đấy. Chỉ bạn chỗ múc nước.
– Dạ.
Ông đi rồi, thằng béo lôi củ khoai ra, bẻ đôi, đưa cho Cốc nửa đầu to.
– Tao là Bổng, Tiêu Đức Bổng. Làm ở Bếp Lớn. – Nó nhìn Cốc từ đầu tới chân. – Mày là thằng đá xám hả? Cả bếp đồn rồi.
– Ừ.
– Tao bốn màu. Thiếu màu trắng. – Bổng nói như khoe, rồi lại xẹp xuống. – Thì cũng tạp dịch.
Tối ấy, sau bữa cơm độn khoai ở Bếp Lớn, dãy nhà Lúa tắt đèn sớm. Tạp dịch làm ruộng từ lúc gà gáy, chẳng ai thức khuya. Cốc nằm trên giường thứ mười bốn, nghe tiếng ngáy của Bổng, tiếng ho khan từ cuối dãy, tiếng ếch nhái dưới ruộng tầng một kêu như một cái chợ nhỏ.
Cậu không ngủ được. Ở nhà, giờ này u còn ngồi đan rổ bên bếp, còn con Mơ đã lăn ra ngủ với cái chân gác lên bụng cậu. Cậu nhớ cái chân ấy.
Cậu ngồi dậy, lấy con quay ra, quấn sợi dây gai quanh thân nó như cha dạy, rồi ngồi xổm xuống sàn gỗ cạnh giường. Có chút ánh trăng rằm lọt qua khe cửa sổ, đủ để thấy.
Cậu giật dây. Con quay rơi xuống sàn, đứng thẳng, chạy vo vo. Năm màu nhòa vào nhau thành một vòng xám nhạt, chỉ có một chấm đen chạy vòng vòng chỗ vệt cháy.
Rồi nó bắt đầu đi.
Không phải lắc lư, không phải chao như con quay sắp đổ. Nó trượt, thẳng một đường, chậm và đều, về phía cây cột cái. Tới cách chân cột một gang tay thì nó chậm lại, nghiêng dần, rồi đổ xuống, nằm lăn một vòng, mũi đinh chĩa về phía cuối dãy, phía con dốc xuống ruộng.
Cốc nhặt nó lên. Sàn gỗ ở đây chắc lệch, cậu nghĩ. Nhà cũ thì sàn lệch.
Cậu quấn dây, đi sang phía bên kia giường, cách cột xa hơn. Giật dây lần nữa.
Con quay chạy vo vo một lúc, rồi lại đi. Lại trượt về phía cây cột. Lại nghiêng. Lại đổ, mũi đinh chĩa về đúng hướng cũ.
Lần thứ ba Cốc quay nó ở tít đầu kia dãy nhà, sát cửa ra vào. Nó đi xa hơn, lâu hơn, nhưng vẫn đi về cột, vẫn đổ nghiêng về một hướng, như có ai nằm dưới sàn khẽ khàng kéo nó.
Cốc ngồi xổm trong bóng tối, cầm con quay đã nằm im, nghe dưới lòng bàn chân mình tấm ván lim ấm lên một chút, rất chút thôi, như ổ rơm ủ mạ vào buổi sáng tháng Chạp.
— Hết chương 1 —
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe